Chào mừng bạn đến với blog ĐỌC & SUY NGẪM .

31 thg 10, 2011

SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ


Vì có lệnh thu hối cuốn tranh biếm, minh họa cho những câu thành ngữ thời đại Internet có tên là “SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ”, nên tôi vội lên mạng tìm xem. Khi tìm được “cuốn sách” trên mạng, tôi xem ngấu nghiến mà quên là sách đang bị cấm. Xem xong, xem lại, vẫn thấy thích. Đúng như câu kết dưới lời giới thiệu: ”Ăn chơi quên mưa rơi”. 
Vâng, “Ăn chơi quên mưa rơi” là tinh thần của kẻ ham chơi. Nguyễn Công Trứ hay tôi cũng vậy thôi, đã dám chơi thì phải xả thân. Đó là cái ý tích cực của câu thành ngữ mới ấy. Còn khi ngẫm kỹ, ta còn thấy phảng phất chút ý nghĩa phê phán của nó với những kẻ quá thái “ăn chơi”.

Có thể nói, những câu thành ngữ mới trong cuốn sách tranh này là những câu Slogan thường gặp trên các trang blog cá nhân của thế hệ trẻ. Bởi đã Slogan thì nó phải ngắn gọn, và thể hiện một quan niệm nghiêm túc nhưng với giong vui đùa và ngộ nghĩnh. Nếu những người lớn tuổi quen với việc vào mạng hay tham gia các diễn đàn mạng, thì sự khó chịu ban đầu sẽ dần biến mất, nhường chỗ cho một tình cảm dễ thương chia sẻ.

Trong thời đại “ăn xổi ở thì” của kinh tế thị trường chộp giật, bao chuyện “cười ra nước mắt” vô cùng đau xót, thì việc “sản xuất” truyện cười là vô cùng cần thiết. Đây cũng là sự bức xúc của giới văn học nghệ thuật trước “nhu cầu cười” tha thiết của công chúng. Chả thế mà ngành sân khấu phải tổ chức cả một liên hoan toàn quốc về Hài Kịch. Nhiều tờ báo mở hoặc muốn mở cuộc thi viết truyện cười. Có độc giả trên mạng thách các nhà văn viết truyện cười… Vậy thì việc họa sĩ Thành Phong và Công ty Nhã Nam làm một cuốn sách biếm họa từ những câu thành ngữ mới (nxb Mỹ Thuật cấp phép) là việc làm đáng hoan nghênh.

Thế sao Cục xuất bản lại ra lệnh thu hồi, ra lệnh cấm?
Trước hết nói về nội dung thì cuốn sách đã mang tới cho bạn đọc tiếng cười lành mạnh. Tên sách là câu thành ngữ mới “SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ”, là nói tới cái họa của những kẻ sát thủ, đập vào đầu người khác thì sẽ có người khác đập vào đầu minh - nó là cách nói khác của câu thành ngữ xưa “Gậy ông đập lưng ông”. Còn câu khuyến cáo ngoài bìa sách bảo là quảng cáo cũng được, mà nói để nhắc nhở cũng đúng: “Không đọc trong khi ăn uống”. Bởi vì ăn uống mà cười phun vào mặt vào mâm là mất vệ sinh lắm lắm. 

Tôi rất thích bức tranh “Bộ đội phải chơi trội” vẽ hai anh bộ đội đá cầu bằng… lựu đạn. Đó là chuyện ngược đời. Vè châm biếm hay tranh châm biếm đều khai thác những nghịch lý trong cuộc sống. Sinh thời, họa sĩ biếm Nguyễn Nghiêm nói về hình thức hội họa này: Cuộc sống đi từ A đến B, còn biếm họa thì nhìn cuộc sống từ B đến A, có thế mới gây cười được. Những bức tranh trong cuốn sách này dù chỉ là “minh họa” cho những câu Slogan thời hiện đại, nhưng đều thực hiện bằng phương pháp “nhìn ngược” đó. Nhờ vậy mà ý nghĩa nhận thức, giáo dục và giả trí của cuốn sách gây được hiệu quả mạnh, thậm chí ngoài cả ý muốn của tác giả.

Nhưng không phải ai cũng thích đùa. Vì thế mà có nhiều ý kiến trái ngược nhau về cuốn sách. Trong đời có người chúng ta đừng dại dột mà đùa vào họ. Đùa không khéo lại bị quy quan điểm thì bỏ mẹ. Thậm chí còn phải cảnh giác với một số người chỉ thích đùa người khác chứ không thích người khác đùa mình, sợ mất thể diện. Rồi cũng còn nhiều kẻ đạo đực giả, làm ra vẻ ta đây là người luôn nghiêm túc. Ngay cả phụ nữ cũng vậy, giữa đám đàn ông họ rất chi là hiền thục, nhưng khi chỉ toàn phụ nữ với nhau, họ nói tục không chịu được, nói tục và cười nắc nẻ… Có lẽ do thích cười nên họ thích những anh chàng thông minh hay góp chuyện cười hóm hỉnh.
Các nhà lãnh đạo cũng vậy. “Ban ngày quan lớn như thần/ Ban đêm quan lớn tần mần như ma”. Nguyễn Công Trứ là quan đại thần cũng tự thú thay cho lũ vua quan thời ông là thế.

Tôi tin những người cấm “SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ” cũng thích cười. Nếu họ xem một cách cá nhân, chắc họ sẽ thich mà cười… một mình rồi cất tiếng hát vang… Nhưng tại sao họ lại cấm?
À, thì ra họ thu hồi sách chỉ vì… ”không nộp lưu chiểu trước khi phát hành”. Họ làm thế là đúng rồi. Nh)ưng vậy thì phải phạt hành chính về vi phạm quy định Lưu chiểu đối với nhà xuất bản, rồi cho tiếp tục lưu hành đi chứ. Sao lại làm ầm ĩ và “ngâm” sách mãi thế?
Thì cũng phải “ngâm cứu chút”. Kinh nghiệm cho biết, cuốn “Trần Dần THƠ” trước đây cũng vậy, sau khi phạt hành chính xong, cuốn sách tiếp tục được phát hành, và được dư luận nhiệt liệt hoan nghênh.
Với cuốn “SÁT THỦ ĐẦU MƯNG MỦ”, tôi nghĩ có lẽ cũng thế thôi. Không thể giam giữ mãi nụ cười.

( NGUYỄN TRỌNG TẠO 












































































































































NGUỒN : ST TRÊN NET

ĐBQH Dương Trung Quốc nói về “Kích cầu niềm tin”

Không ồn ào theo kiểu “gây sốc” song những phát biểu của ông đã nghe rồi, đọc lại vẫn thú vị. Một phần, ở sự thể hiện, và quan trọng hơn là ở sự phát hiện.

Đại biểu Dương Trung Quốc (phải) trao đổi với Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang bên hành lang kỳ họp Quốc hội thứ hai – Ảnh: Hải Hà 
Khi Quốc hội khóa 13 đang sôi nổi thảo luận các báo cáo, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội do Chính phủ trình, ông vẫn tiếp tục băn khoăn vì chưa nhìn thấy sự đầu tư đúng mức đối với vấn đề văn hóa, xã hội và đời sống. Điều mà đã từng được ông nhìn nhận như là hạn chế trong điều hành của Chính phủ.
Tại kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 12, khi thảo luận về báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, ông đã nói: “Khi chúng ta gặp khủng hoảng về kinh tế, chúng ta có thể đầu tư để kích cầu về kinh tế, nhưng tôi chưa thấy Chính phủ kích cầu về niềm tin, về đời sống xã hội, văn hóa. Tôi cho đó là điều đáng suy nghĩ nhất cho nhiệm kỳ tiếp theo”.
Đến kỳ họp này, phát biểu của ông trước diễn đàn Quốc hội vẫn thể hiện tâm tư về câu chuyện này.
Xin chào nhà sử học Dương Trung Quốc. Báo cáo đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ mới trình Quốc hội đã “đậm đà” về văn hóa, xã hội như ông mong đợi chưa ạ?
Có lẽ Chính phủ cũng phải tập trung quá nhiều vào việc ứng phó kinh tế, điều đó chúng ta phải có sự chia sẻ.
Nhưng cái quan trọng nhất là niềm tin của dân, nếu người dân có tin thì vẫn tin một cách rất cảm tính, cơ sở để người dân có niềm tin thực sự chưa nhiều. Tôi có cảm giác hình như Chính phủ chưa chia sẻ nhiều với dân, chưa làm tốt việc tranh thủ ý kiến của dân.
Ví dụ, gần đây Chính phủ đã nói nhiều đến việc tập hợp chuyên gia để tham khảo những ý kiến khác nhau, nhưng từ tham khảo đến thực hiện tôi cho vẫn còn khoảng cách rất lớn. Tuy nhiên mình cũng hiểu là Chính phủ phải chịu trách nhiệm, quyết định tất cả nhưng vẫn cần tranh thủ nhiều hơn nữa, vì nguồn lực trong dân còn rất nhiều.
Nguồn lực kinh tế thì Chính phủ quan tâm, nhưng nguồn lực trí tuệ thì chưa được quan tâm đúng mức.
Tôi cũng là người tiếp xúc khá nhiều với các vị lão thành trong lĩnh vực kinh tế, các vị cũng nói là những điều đóng góp chưa được thể hiện nhiều trong thực tiễn đời sống. Mặc dù mình hiểu Chính phủ phải có bản lĩnh của mình, quan điểm của mình, mình rất tôn trọng việc đó, nhưng vẫn cần để dân chia sẻ nhiều hơn.
Thưa ông, xin phép được tranh luận một chút…
Để mình nói tiếp đã nhé, trở lại một vấn đề cũ thôi, cũ nhưng vẫn là mới.
Đó là việc đề cập đến hiện tượng “tụ tập đông người” mà chủ yếu mới thấy một chiều là dân bị lợi dụng, điều đó tôi e rằng sẽ dẫn đến nhận thức không đúng đắn. Phải coi đó là hiện tượng mới nảy sinh trong thực tiễn đời sống và phải tỉnh táo nhìn nhận nó.
Cách đây hơn một thập kỷ chúng ta đã chứng kiến việc nông dân ở Thái Bình biểu tình, con mắt ban đầu chúng ta cũng nhìn ra như một hình thức bạo loạn. Nhưng tôi nhớ hồi đó các nhà lãnh đạo đã rất sáng suốt tiếp cận với thực tiễn, đến tận với dân, đi vào tận cả những nơi tưởng như hiểm nguy nhất, và nhận ra rằng có cả hai mặt, để rồi chúng ta trừng trị những kẻ quá khích, những kẻ xúi giục, nhưng đồng thời chúng ta cũng thấy những tác động của nó như tham gia đóng góp vào công bằng xã hội hay chấn chỉnh bộ máy chính quyền địa phương.
Nhưng với những hiện tượng xảy ra gần đây, tôi thấy chúng ta còn lúng túng, lúng túng ở lập pháp, lẫn hành pháp.
Tôi nhắc lại là chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận biểu tình như là một hiện tượng mới và tôi tin rằng nó sẽ còn phát triển trong bối cảnh đời sống ngày càng phát triển hiện nay. Nếu ta không chủ động nhìn nhận trước, phân tích nó và đưa ra những hệ thống pháp lý thích hợp cùng với tổ chức toàn bộ đời sống xã hội thì chúng ta sẽ càng lúng túng, và đó có thể là lúc những kẻ xấu lợi dụng.
Tại phiên họp của ủy ban Thường vụ Quốc hội trước kỳ họp Quốc hội thứ hai, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết không phải là bộ, ngành nào mà chính Thủ tướng đề xuất xây dựng Luật Biểu tình. Như vậy cũng có thể thấy Chính phủ đã lắng nghe ý kiến đại biểu và chủ động ứng phó?
Bản thân tôi cũng thấy đó là đáng mừng, đương nhiên người ta cũng nói là nếu Chính phủ làm luật thì có thể dẫn đến thiên về lợi ích của nhà quản lý hơn là những quyền của người dân. Cho nên tuy là Thủ tướng đề nghị xây dựng luật nhưng đây chính là thử thách của Quốc hội, Quốc hội có chấp nhận hay không, vì quy trình phải qua Quốc hội. Quốc hội là tập hợp tiếng nói của rất nhiều lực lượng xã hội nhưng quan trọng là anh có đủ bản lĩnh để điều chỉnh dự thảo luật được không, tôi cho là không cần e ngại điều đó.
Ở hoàn cảnh hiện nay, khi mà như ông nói, Chính phủ đang phải dồn lực cho các vấn đề kinh tế thì có thể sự “kích cầu” niềm tin chưa rõ nét. Nhưng nếu đây là “điều đáng suy nghĩ nhất cho nhiệm kỳ tiếp theo” như ông đã phát biểu thì liệu ông có thể “hiến kế” cho Chính phủ?
“Kích cầu” niềm tin chính là quan tâm đến dân, tạo niềm tin cho dân bằng chính hành động gương mẫu của những người lãnh đạo.
Tôi luôn luôn liên tưởng đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, tất nhiên mọi sự liên tưởng đều có thể khập khiễng, nhưng lúc đó người dân ghé vai giải quyết được rất nhiều vấn đề của đời sống xã hội.
Hiện nay chúng ta thấy Chính phủ có lúc làm được, nhưng về căn bản mà nói dường như đấy chưa là chiến lược, là nguyên lý hoạt động, cho nên mới xảy ra nghịch lý là hình như lúc nào đất nước khó khăn thì quyền lực Chính phủ càng lớn, bởi vì vẫn là quan hệ xin – cho.
Vừa rồi thì Chính phủ có trình ra Quốc hội cả kế hoạch năm 2012 và 5 năm tới song hầu như tôi không tìm thấy giải pháp “kích cầu” niềm tin đâu cả.
Các báo cáo của Chính phủ năm nào cũng như năm đấy, nó rất dàn trải bằng các mục tiêu và không biết thực hiện đến đâu. Và tôi còn đặt câu hỏi rất lớn là định lượng không ai giám sát được, những con số là rất khó giám sát.
Tuy nhiên 6 tháng thì cũng  thời lượng chưa đủ dài để thay đổi về chất, nên theo tôi thì mỗi lần báo cáo nên tập trung vào một số điểm nào đó thôi và làm rõ được nó.
Tuy không có trong hệ thống chỉ tiêu được Chính phủ trình và Quốc hội quyết định hàng năm, song “chỉ tiêu niềm tin” gần đây được nhiều chuyên gia kinh tế nhắc đến với sự quan ngại sâu sắc. Ông có chia sẻ?
Nói định lượng thì khó vì phải có phương pháp, còn nếu cảm nhận thì chúng tôi cũng cảm nhận là niềm tin bị hao hụt, mà điều này tôi nghe từ các nhà lão thành cách mạng. Đánh giá về niềm tin của người dân thì mỗi người đứng ở lợi ích khác nhau, nhưng điều tôi  muốn chia sẻ là cần làm cho người dân tin rằng là Chính phủ đã đưa ra chính sách gì là có thể thực thi được. Nhưng trên thực tế thì có nhiều chính sách có rồi mà có thực thi được đâu. Năng lực của nhà nước là quan trọng, mà chưa bao giờ  chúng ta có bộ máy nhà nước lớn như thế này, tất nhiên lớn có thể cồng kềnh và ít hiệu quả.
Tôi nói ngày xưa – tất nhiên nói ngày xưa thì khó so sánh – trong làng có ông lý trưởng, nếu dây điện đi qua làng thì sẽ tính trừ cho ông ấy bao nhiêu suất đinh hay bao nhiêu tiền thuế, còn nếu cái dây đó đứt hay bị ăn cắp thì ông lý trưởng đi tù đã. Do đó thì ông lý trưởng phải làm tất cả mọi chuyện, tất cả mối liên hệ nhà nước chỉ có một người thôi.
Trách nhiệm cá nhân rất quan trọng, nên đó là lý do tại sao tôi ủng hộ anh Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, không phải là việc làm cụ thể mà tôi ủng hộ cách làm của anh ấy là dám chịu trách nhiệm. Anh làm đúng thì mọi người sẽ đánh giá, còn anh làm sai anh phải chịu trách nhiệm, anh cách chức người ta đúng hay không thì anh phải chịu trách nhiệm, còn cái nguy hiểm nhất là lãnh đạo tập thể và hậu quả của tập thể, hòa cả làng.
Đương nhiên, càng ngày càng thấy Chính phủ mới là những người có tính chuyên nghiệp hơn. Nếu nhìn vào cả quá trình đào tạo và làm việc thì đã qua thời kỳ cán bộ chính trị chay rồi. Vấn đề còn lại cơ chế hoạt động thôi, mà yếu nhất vẫn là trách nhiệm cá nhân.
Mới qua thời gian rất ngắn nên cũng khó có thể đưa ra đánh giá về điều hành của Chính phủ, song tôi vẫn đặt niềm tin và hy vọng vào sự điều hành của Chính phủ mới.
Vậy còn vai trò của Quốc hội thì sao, thưa ông?
Quốc hội chưa có gì thay đổi lớn về cơ chế, trừ một điều mà tôi rất muốn hy vọng là là ông Chủ tịch Quốc hội rất am hiểu Chính phủ, tôi đang quan sát xem ông ấy sẽ hành xử như thế nào, nhưng chưa có gì để nói cả vì vẫn còn mới mà.

Nguồn : BASAM

Căn bệnh Giao Thông Việt Nam: Chỉ có 1 phác đồ điều trị


Những ngày gần đây báo chí và công luận, từ vỉa hè cho đến nghị trường quốc hội, từ quán Coffee cho đến văn phòng Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội và Sài Gòn, đều nhắc nhiều đến việc giải quyết vấn nạn ùn tắc giao thông của hai thành phố lớn nhất Việt nam.
Có vẻ như một số chính khách, nhất là ông bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải – Đinh La Thăng, đang mượn diễn đàn này để PR cho tên tuổi của mình là chính. Dư luận đang bị lạc hướng, khi mất thì giờ vào một câu chuyện mang tính tất yếu, chỉ có thể khắc phục phần nào, mà không bao giờ triệt tiêu được hoàn toàn – đó là nạn ùn tắc giao thông.



Hạn chế tai nạn giao thông  cấp bách hơn nạn kẹt xe tại các thành phố 



Vấn đề ùn tắc giao thông hiện vẫn đang là đề tài “muôn thủa” tại nhiều quốc gia phát triển. Ngay cả tại Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan vv.., người ta chỉ có thể rút ngắn thời gian dừng (dừng và đi tiếp), chứ không thể xóa bỏ việc kẹt xe trong giờ cao điểm. Bởi đơn giản là, dường như tỉ lệ người và phương tiện tham gia giao thông cứ tăng tỉ lệ thuận với tốc độ xây dựng hạ tầng giao thông tại các thành phố lớn. Để đối phó với vấn nạn kẹt xe (ở Việt Nam là tắc đường), chỉ có cách người dân phải tự thích nghi với hoàn cảnh: Tìm đường tránh, kiên nhẫn chờ đợi, hoặc chọn thời gian ra đường (thường là đi sớm về sớm hoặc đi sớm về muộn)…



Phương pháp giãn dân, di chuyển một số cơ quan hành chính, các nhà máy, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp ra ngọai thành, là những giải pháp ít tốn kém hơn, có thể thực hiện nhanh hơn chương trình làm các tuyến giao thông ngầm và trên cao. Nó hoàn toàn nằm trong tay hệ thống quyền lực của nhà nước Việt Nam (quốc hội, chính phủ và tòa án). Nhưng họ không chịu làm vì những toan tính thiển cận cá nhân từ nội bộ Trung ương Đảng. Vậy thì còn lâu mới giải quyết được bài toán ùn tắc giao thông.



Thay vì tìm hiểu nguyên nhân sâu sa của vấn nạn này, giống như một loại bệnh tật cần có phác đồ điều trị. Căn bệnh Giao Thông Việt Nam đang được chú ý một cách thụ động, chỉ nhắm vào việc giải quyết ùn tắc giao thông. Nhiều người đã quên rằng: Chuyện rối loạn giao thông ở đô thị chỉ ảnh hưởng đến vấn đề hành chính và kinh tế là chính. Nếu so sánh về tỉ lệ thiệt hại nhân mạng (kể cả vật chất) thì những tai nạn trên các cung đường liên tỉnh mới là vấn đề nhức nhối, cần giải quyết trước vấn đề ùn tắc giao thông tại Hà Nội và Sài Gòn.



Người viết bài này từng có thời gian sống tại Hà Nội và Sài Gòn, đã từng hàng chục lần đi từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam, lên Tây Nguyên vv.., bằng đủ loại phương tiện như máy bay, xe khách, xe tải, xe lửa. Đã từng nếm mùi kẹt xe, tắc đường nhiều lần ở Hà Nội và nhất là Sài Gòn. Qua những khoảng thời gian đó, người viết nhận thấy ngoại trừ nguyên nhân từ nạn đào đường, tất cả các vụ tắc đường đều có nguyên nhân xuất phát từ xe ô tô gây nên (đâm, va quệt, hỏng máy, nổ lốp giữa đường, dừng đỗ quay đầu bừa bãi, giao nhận hàng lấn lòng lề đường, vượt ẩu vv...). Riêng tắc đường do xe máy gây tai nạn, là ít hơn. Vì người ta có thể giải quyết được hiện trường vụ tai nạn rất nhanh.



Đối với các cung đường liên tỉnh thường xảy ra các vụ tai nạn thảm khốc là Quốc lộ 1A; 14; 19; 70; 5 vv… Có 2 nguyên nhân chính có thể thấy: Thứ nhất, đó là khâu thiết kế và thi công đường không đảm bảo (độ trơn trượt cao, độ nghiêng tại các đoạn cua không hợp lý, tầm nhìn hạn chế, biển báo không khoa học). Thứ hai, đó là hiện tượng lái xe chạy quá tốc độ giới hạn, không hiểu luật vì bằng lái hầu như là chỉ đi mua. Vậy nếu khắc phục được 2 yếu tố trên thì ít nhất các vụ tai nạn kinh hoàng sẽ giảm đi một nửa.



Cần giải quyết dứt điểm vấn đề ô tô và mặt đường tại tất cả các địa phương và trong thành phố Hà Nội cũng như Sài Gòn, sau đó mới đến vấn đề xe máy. Nhất là tại các thành phố lớn của Việt Nam có đặc thù kinh tế “Ngô rang” – tức là tự bung, tự phát. Phần lớn lượng người đi về không theo quy luật, đan xen giữa công việc nhà nước, tập thể và cá nhân là rất lớn. Người ta vẫn thấy cảnh kẹt xe trầm trọng vào các ngày nghỉ như thứ 7 và chủ nhật. Một điều dễ nhận thấy là, xe máy vẫn là phương tiện lưu thông hợp lý nhất, dễ giải phóng mặt đường nhất, vì nó có thể len lỏi đi lên vỉa hè hoặc luồn qua các ngõ hẻm dễ dàng khi cần thiết.



Vậy hạn chế xe máy tại các thành phố lúc này và trong một vài năm tới, là bài toán sai lầm nghiêm trọng. Ngay cả tại Bangkok – thủ đô Thái Lan – một đô thị hiện đại hàng đầu Đông Nam Á, cũng chưa có việc cấm người đi xe máy. Thực tế đã có rất nhiều người dân Bangkok dùng xe máy, cất ô tô ở nhà, vì họ thấy rằng đi xe máy có thể dễ dàng tránh được nạn kẹt xe. Một yếu tố xã hội nữa cũng sẽ xảy ra, đó là sự phản ứng của người dân đối với việc cấm xe máy tại Hà Nội và Sài Gòn, không loại trừ sẽ trở thành những cuộc bạo động chứ không chơi…



Liệu rằng các biện pháp trên có thể khả thi hay không? Xin Trả lời rằng không! Các biện pháp bề nổi của giới cầm quyền ở Việt Nam đang nhắm vào quyền và lợi ích của đa số tầng lớp dân nghèo. Họ đang sẵn sàng hy sinh quyền lợi của nhân dân để đạt được điều gì đó cho công danh của một vài cá nhân cán bộ có quyền lực, ví dụ như ông bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, và những người giàu sống tại các đô thị lớn. Đây là những chủ trương phản khoa học và phi dân chủ. Chắc chắn ngoài việc nó không khả thi, thì nó còn gián tiếp gây nên những xáo trộn đáng kể cuộc sống bình thường của người dân nghèo đô thị.   



Ngay cả việc giải quyết vấn đề mặt đường và người lái xe mà người viết đã nêu ra ở trên cũng không thực hiện được, vì xã hội Việt Nam hiện không có chỗ cho sự đúng đắn: Làm sao mà người ta có thể thu bằng của lái xe, vì dù đi mua thì nó vẫn là tấm bằng thật? Làm sao mà có đường tốt, khi mỗi công trình làm đường bị rút ruột đến nỗi, đầu này làm chưa xong thì đầu kia đã hỏng? Làm sao có các kỹ sư, công trình sư cầu đường giỏi, khi bằng cấp được đi mua, hay là sự sắp xếp của con ông cháu cha? Làm sao hạn chế xe quá khổ, khi ngành đăng kiểm bị lũng đoạn? Làm sao hạn chế xe quá tải, khi công an giao thông là kẻ mãi lộ? Làm sao lật tẩy sai phạm và quy kết đúng trách nhiệm thi công, khi cơ quan thanh tra là người tham gia chia chác lợi nhuận từ việc rút ruột công trình? Làm sao xử lý đúng người đúng tội, khi Viện kiểm Sát và Tòa án lại kiêm nghề chạy án của các vụ án giao thông?...



Khi mà những người lãnh đạo tầm cỡ như bộ trưởng Đinh La Thăng dường như chỉ chú ý đến danh tiếng, ra văn bản trái pháp luật, vi phạm nhân quyền. Các cơ quan hữu trách làm ngơ, báo chí xun xoe nịnh bợ, thì đó là dấu hiệu sự xuống dốc thê thảm của chế độ cầm quyền. Một chế độ pháp trị phải là một chế độ thượng tôn pháp luật, nếu một quan chức ra văn bản vi phạm pháp luật, nó phải được thu hồi ngay, và xử lý nghiêm hành vi ấy như một tội lạm dụng quyền lực. Vậy phác đồ điều trị cho căn bệnh Giao Thông Việt Nam phải là phác đồ thay thế triệt để cả một hệ thống chính trị cũ nát lạc hậu, phản dân chủ hiện nay.


Nguồn : LêNguyên Hồng

29 thg 10, 2011

Phục tài bác Mạnh!



 

Vietinfo đưa tin Cựu TBT Nông Đức Mạnh cưới vợ trẻ: Theo nhiều nguồn tin khác nhau, sau khi rời ghế Tổng bí thư Đảng CSVN chưa đầy một năm, ‘Cụ’ Nông Đức Mạnh cảm thấy ‘cô đơn’ và quyết định lấy vợ mới. Vị hôn thê mới của ‘Cụ’ là cô gái trẻ và dễ thương vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh)…Cô dâu là Đỗ Thị Huyền Tâm, sinh 17/10/1966, quê tại Ninh Xá, Bắc Ninh…Cô là Tổng giám đốc một công ty trách nhiệm ‘vô hạn’ Minh Tâm , là đại biểu Quốc hội khoá 12 và khoá 13 hiện nay.


Chẳng biết trúng hay trật nhưng thấy vui vui. Anh Ba Sàm thì bình luận:” Chuyện “yêu” thì chắc chắn rồi, nhưng “cưới” hay chưa thì mới là tin đồn. Nội dung bài viết cũng có những chi tiết không được chính xác, hơi “dìm hàng” cô dâu quá (“4 lần lên xe hoa”. Thực ra 2 lần là lên xe … với “đại gia” thì đúng hơn). Có lẽ vì vậy mà lối viết cố tình tếu táo cho bà con hiểu là tin “vỉa hè”. Vỉa hè thì vỉa hè, mình vẫn vui như thường.


Việc bác Mạnh yêu hay cưới vợ hai là chuyện bình thường. Bác Nguyễn Trọng Tạo chẳng chức tước bổng lộc gì mà nghe đâu đang định cưới vợ thứ tư, huống gì là bác Mạnh. 
Nhìn bác Mạnh cười, hàm răng trắng đều tăm tắp biết bác hảy còn sung lắm, răng chắc cặc bền mà. Bác còn yêu được là mừng cho bác ,còn sống còn yêu vậy là vui rồi. Bác Mạnh sinh năm 4o, năm nay đã 72 tuổi rồi. Tuổi ấy Bác Hồ lo ngồi viết di chúc, bác Mạnh vẫn còn yêu được và được gái yêu là rất vui, cuộc đời vẫn đẹp sao he he.. .

Một mụ nạ dòng, hoa khôi năm cà cuống, hay tin này bình một câu tỉnh bơ, nói ông này nông nhưng mà mạnh, duyệt, nếu là tao thì tao cũng duyệt. Đúng đúng. Thôi thì không yêu dân thì yêu gái vậy, không làm  cho dân hạnh phúc thì làm cho gái sung sướng, cũng gọi là tài. Bây giờ mình mới thực sự phục tài bác Mạnh,  hi hi.

Chúc mừng bác Cựu


Chúc mừng bác Cựu họ Nông
Nhân ngày bác cưỡi xe bông - đón nàng

Theo bản Tuyên ngôn Độc lập cụ Hồ đọc trước quốc dân đồng bào năm 1945: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
 (Câu này Cụ “quote” lại từ văn bản cùng tên bên Mỹ) – thì việc một bác giai góa vừa qua ngưỡng “cổ lai hy”, tục huyền với một chị U50, quả không đáng được xếp vào hàng “sự kiện”. Thảo nào báo chí lề phải im phăng phắc. Thậm chí không có cả điện hoa chúc mừng. Thế mới biết truyền thông nước nhà tuyệt đối thượng tôn pháp luật. Cựu Tổng Bí thư hay thường dân đều “bình đẳng”. 

image

Nhưng phương tây thì khác. Người nổi tiếng – Celebrities – ra biển quên không waxe (tẩy lông) lập tức bị đám paparazi bao vây, ném đầy ảnh lên mặt báo. Sự kiện “đám cưới hoàng gia” đang được giới An Nam Bloggers râm ran bình luận khắp các sân chơi. Từ Face book sang Yahoo 360, từ Wordpress về Blogposts, theo đúng tinh thần “hội nhập”.
Có người khen bác cựu Tổng “đào hoa”. “Rổ rá Hoàng gia” có khác! Dẫu cạp lại cũng vẫn là “hàng hiệu”. 

Có kẻ lại đem so bác họ Nông với cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa. Lúc về hưu, cụ chỉ là Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên, nhưng còn cưới được cô ả đào nõn nường, trẻ hơn cả “ngũ thập niên tiền” của cụ.
Người lo xa, sợ cô nghị sĩ đang độ hồi xuân phơi phới, chẳng mấy đỗi bác Nông “teo” thành “bã thuốc”. Người lạc quan lại bảo nhìn bác cựu cười răng còn tươi rói. Chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào”.
Nhưng dù sao mình cũng vẫn nhiệt liệt hoan hô bác cựu Tổng! 

Bác còn đạo đức hơn khối kẻ “bóc bánh trả tiền”. Hơn khối kẻ bẻ lá chơi hoa rồi truy phong quất ngựa. Hơn khối kẻ dùng quyền lực để ban ơn mưa móc; biến những bình hoa di động vô hồn thành quan chức  khi văn phòng, công sở trở thành giường ngủ. 

Chúc mừng bác đã dũng cảm, vượt qua được mọi lời đàm tiếu, ngăn trở từ gia đình, đồng chí, bạn bè. Chúc mừng bác đã giành lại quyền được làm  “con – người”;  giành lại quyển “mưu cầu hạnh phúc”.
Chúc mừng bác không còn cô đơn lúc mãn chiều, xế bóng. Con người dù ở độ tuổi nào cũng cần tri âm tri kỷ. CHÚC HAI NGƯỜI HẠNH PHÚC!

Nguồn :  THANH CHUNG BLOG

28 thg 10, 2011

Sau Gadhafi là ai?


Chủ tịch PhidelCastro.


Trước anh Gadhafi là anh Mubarak, trước Mubarak là anh Saddam Hussein, trước Saddam là anh Taliban, trước Taliban là anh Milosevic, rồi anh Liên Xô và các em Đông Âu. Lần lượt “đi”, không bao giờ trở lại.

Nhiều nơi do dân tự nổi dậy, có chỗ do phương Tây cổ vũ hoặc chọc gậy bánh xe. Nhưng những quốc gia đã trải qua cách mạng mầu hay không mầu thì chẳng ai muốn trở lại ngày xưa.


Người Mỹ thấy việc vác quân đi đánh Iraq, Afganistan vô cùng tốn kém, mang tiếng xâm lược để rồi phải lo rút quân. So với cách mạng mầu Đông Âu hay mùa xuân Ả Rập thì Hoa Kỳ không phải làm gì mà vẫn thắng. Họ đang muốn chiến lược ngoại giao mềm này.

Với Hoa Kỳ, Trung Quốc là đối tác chiến lược, Việt Nam là đối tác chiến thuật. Vì thế Cao bồi sẽ không làm gì.

Nhưng họ sẽ lần lượt tính sổ các “đồng chí” độc tài còn lại và sắp xếp lại trật tự thế giới cho hợp lý hơn. Đó là mấy cái gai chưa nhổ được là Bắc Hàn, Iran và Cu Ba.

Bắc Hàn có Trung Quốc chống lưng.

Iran thì đang âm ỷ. Tuần trước, bà Clinton nói sẽ mở một “Sứ quán ảo tại Tehran” trên mạng. Rằng, Hoa Kỳ rất muốn cải thiện quan hệ với nhân dân Iran và khuyến khích sinh viên Iran “tới học tại Hoa Kỳ”. Kiểu này thế nào cũng có phiên chợ Ba Tư trong mùa Xuân Ả Râp.

Cu Ba cũng có VN…chống lưng, nhưng mình nghèo, thỉnh thoảng giúp vài trăm tấn gạo cứu đói, hết vốn hữu nghị. Nga không chơi với Cu Ba, Trung Quốc không thích Cu Ba, còn mỗi chị Cu Ba yêu anh Ba Cu.

Sau khi cho anh Gadhafi ra sa mạc hưởng gió cát, thì bỗng hôm qua, Ngoại trưởng Hillary Clinton nói “Castro cần phải ra đi.”, VOA cho hay.

Bà Clinton nói thêm “Nhưng không may là ông Fidel Castro có vẻ như không đi đâu cả.”

Mình nhớ có lần Bush cũng nói tương tự, Saddam Hussein phải ra đi. Thế là “đi” thật.

Các bạn thử đoán xem Mỹ “làm việc” với anh Phidel theo kịch bản nào. Nghe nói CIA đã hàng trăm lần muốn ám sát Phidel nhưng không thành.

Nhưng có một quân sư quạt mo của Obama nói rằng, Hoa Kỳ nên gửi rượu whisky và thức ăn bổ dưỡng để cho Phidel sống thêm một thời gian nữa, Cu Ba sẽ “đi” nhanh hơn.

Nguồn : HIEUMINH

26 thg 10, 2011

Viết trong ngày doanh nhân


Không phải ngẫu nhiên mà xã hội dần hình thành một lớp doanh nhân trí lùn, nhưng lại luôn cặp kè và sai khiến cả… nguyên thủ!
Việc tầng lớp siêu giàu đang "sở hữu" các chính trị gia đã không còn là câu chuyện của riêng nước Mỹ. Không biết ở Việt Nam, nhóm 1% kia đang chiếm ôm đến bao nhiêu phần trăm vốn liếng và tài sản quốc gia? Và thật sự cái “phố Wall” của nước Việt này đang nằm ở… chỗ nào?
         
Tất nhiên, không ai dám xem thường vai trò và vị thế của người “làm ra tiền”. Đả phá giới “con buôn” là “di sản” ấu trĩ của một thời gõ kẻng ăn cơm. Giá trị doanh nhân và tầm thế của người “làm ra tiền” ngày càng được nhìn nhận đúng mực và coi trọng hơn. Không cần nhắc điều này nữa, bởi nó đã được ca tụng, tôn vinh quá nhiều và xã hội đã có hẳn một ngày dành cho họ: ngày doanh nhân. Nói trước vậy để xin các “đại gia” đừng chụp cho thằng Nhất cái mũ “xem thường khinh miệt” những người biết “làm ra tiền”. Tôi chỉ muốn nhìn xét thử ở vài nghĩa khác, những chiều nghĩa thấy còn ít nhiều “lộm cộm” về một xu thế và tầng lớp “doanh nhân mới”.
         
Chơi quen và thân nhiều thương nhân, trong đó không ít hàng đại gia, tôi giật mình nghiệm ra rằng: đa phần họ đều… ít học. Hiếm có tay nào nhiều chữ lại lắm tiền! Có lẽ cũng giống như con nhà nghèo thường học giỏi, việc hẫng hụt thua thiệt trong sự học đã thành động cơ khiến họ cố vươn lên trong sân chơi … bạc tiền!
         
Ừ thì không phải ai cũng có học, cũng như không thể ai cũng lắm tiền. Nhưng nhiều điều khiến tôi lẩn thẩn mãi: Tại sao phần lớn các đại gia lại đều thuộc diện ít học? Hay phải chăng ở cái nước mình, muốn làm giàu thì không cần học và học càng nhiều thì “cơ hội” làm giàu càng xa? Tại sao cái sự học lại có vẻ mâu thuẫn với sự giàu, và nếu vậy thì giáo dục và đường hướng cho con cháu ra sao? Xã hội cần tiền, cần người biết làm ra tiền, nhưng chẳng lẽ lại khuyên bảo con cháu: đừng học nữa, hãy đi… làm tiền?
         
Ai đó bảo: doanh nhân Việt không cần vốn, cái vốn lớn nhất cần nhất quan trọng nhất và chóng làm giàu nhất là “vốn quan hệ”. Tuyệt đúng! Do thế, cái sự “quan hệ” này lại rất ứng với sự ít học của nhiều đại doanh Việt. Không phải ngẫu nhiên mà xã hội dần hình thành một lớp doanh nhân trí lùn, nhưng lại luôn cặp kè và sai khiến cả… nguyên thủ!
         
Cái “vốn” này đem lại cho họ những lợi ích khổng lồ. Chiếc bánh lợi ích đó thay vì được cắt chia đều cho xã hội, thì lại được dồn gói làm giàu cho vài thương nhân máu mặt biết quan hệ. Sự làm tiền và làm giàu vì thế nhiều khi trở nên quá dễ dãi và bất chấp. Xã hội dần hình thành một lớp thương nhân cực giàu, đẩy sự cách biệt trong xã hội ngày một xa hơn.
          
Từ chỗ không cần học lại dễ làm giàu, dễ sai khiến làm không ít doanh gia ảo tưởng lao vào sân chơi chính trị. Sự xuất hiện quá nhiều doanh gia trong quốc hội kỳ này, với nhiều người có thể xem là một báo hiệu tốt, nhưng với tôi đó là một mối lo. Với sự ít học và chí thú làm tiền, nguồn vốn “quan hệ” cùng chiếc bánh lợi ích quốc gia sẽ được chia sẻ, bấu xé ra sao? Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt đã từng thẳng thừng khi nói rằng đó là dấu hiệu “khó yên tâm”. Ông bảo: “thương nhân có thể có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống kinh tế, nhưng tham gia vào bộ máy chính trị thì họ không phải là những người làm chính trị chuyên nghiệp.
          
Đã nghe ai đó mơ một ngài Thủ tướng xuất thân từ doanh nhân. Tôi thì không mơ vậy mà giả như nếu có thì đó là mối nguy. Thật tình tôi đang sợ, rất lo sợ khi cảm thấy dường như sự can dự ngày càng sâu của các nhóm đại gia tiền lắm trí lùn vào các chủ trương chính sách tầm quốc sự.
          
Chẳng dám chê bỉu gì. Ai lại không cần tiền. Tôi cũng vậy. Cần lắm chứ. Nhưng nhìn vào những sự giàu có kia khiến tôi… sợ! Không phải ngẫu nhiên mà cuộc biểu tình phố Wall nổi sóng với câu khẩu hiệu “Khi người giàu ăn cắp của người nghèo, họ gọi đó là kinh doanh. Khi người nghèo đứng lên tự vệ, họ gọi đó là bạo động”. Việc tầng lớp siêu giàu đang "sở hữu" các chính trị gia đã không còn là câu chuyện của riêng nước Mỹ. Không biết ở Việt Nam, nhóm 1% kia đang chiếm ôm đến bao nhiêu phần trăm vốn liếng và tài sản quốc gia? Và thật sự cái “phố Wall” của nước Việt này đang nằm ở… chỗ nào?

Nguồn : TRƯƠNG DUY NHẤT