Chào mừng bạn đến với blog ĐỌC & SUY NGẪM .

12 thg 7, 2012

BÀ HILLARY CÓ THỂ PHẢI ĐẾN "LÀM VIỆC" VỚI CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA


Trong khi không ít người Việt nam nồng nhiệt chào đón Ngoại trưởng Mĩ Hillary Clinton đến Hà nội thì tôi lại cảm thấy muốn ngồi lặng lẽ một mình. 
Tôi lặng lẽ nghĩ về cuộc sống riêng tư không hoàn hảo của bà Hillary với ông Clinton, cựu tổng thống xứ cờ hoa cũng là chồng của bà.

Điều đó có vẻ hơi mâu thuẫn với thái độ của nhiều người có tư tưởng tiến bộ và có thể gợi nên chút ác cảm với cá nhân tôi. 
Nhưng nói như thế không có nghĩa là tôi không thán phục bà về năng lực tuyệt vời của một nhà lãnh đạo quốc gia và yêu mến bà ở sự dũng cảm, chân thành trên chính trường và trong cả cuộc sống riêng tư.

Năm 1998, mối quan hệ trong gia đình Clinton trở thành mục tiêu của nhiều lời đồn đại và suy diễn về vụ tai tiếng Lewinsky khi tổng thống thừa nhận có quan hệ tình dục với cựu thực tập sinh tại Nhà Trắng, Monica Lewinsky. 
Sau những chứng cớ rõ ràng về mối quan hệ giữa tổng thống và Lewinsky bà thừa nhận sự thật về một tai họa nhưng bày tỏ sự vững tin vào sự bền vững của mối quan hệ hôn nhân với chồng.
Đầu năm năm 2008, Tổng thống mới đắc cử Barack Obama cho biết ông sẽ đề cử Hillary Clinton làm ngoại trưởng Hoa Kỳ khi ông nhậm chức vào ngày 20 tháng 1 năm 2009  thì đến ngày 21 tháng 1 năm 2011, bà được Thượng viện phê chuẩn và trở thành Ngoại trưởng thứ 67 của Hoa Kỳ.
Sự xuất sắc của bà trên chính trường làm cho dư luận Mĩ nghĩ đến Hillary Clinton như một ứng viên tiềm năng cho chức vụ Tổng thống Mĩ. Sau đó, bà được tạp chí Forbes chọn vào danh sách những nhân vật thế lực nhất thế giới cùng thời.
Tất cả những điều đó trở thành một nhát khắc trong tâm trí cá nhân tôi khi nghĩ về Hillary Clinton, nó khiến tôi không ngừng tìm tòi những chứng cứ cho các so sánh của mình.

Việc đem một Ngoại trưởng Mĩ so sánh với ba, bốn nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt nam là một so sánh khập khiễng về thứ bậc vì bà chỉ là một Ngoại trưởng ngang hàng với ông Ngoại trưởng Việt nam Phạm Bình Minh.
Nhưng rõ ràng chẳng ai mảy may muốn so ông Minh với bà Hillary vì như vậy chỉ đạt được sự hợp lý về thứ bậc hành chính nhưng quá khập khiễng về tiếng tăm và những hoạt động thực tế chính trường thế giới giữa hai vị ngoại trưởng.
Vậy nên trong suy tưởng, người ta muốn so sánh Hillary với các ông Nguyễn Phú Trọng hoặc ông Nguyễn Tấn Dũng.


Phải công bằng mà nói ông Trọng không bị mấy tai tiếng trong cuộc sống. Chưa thấy ai khẳng định rằng ông Trọng là kẻ lợi dụng chức quyền để vun vén tư lợi hoặc cất nhắc thân tộc vào những vị trí cao trong bộ máy đảng, nhà nước nhằm trục lợi.
Nhưng những tuyên bố như trong “cơn mê sảng của ông Trọng”- như nhiều người nhận xét về việc kiên định  "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử" trong bài phát biểu tại Cuba làm nhiều người giật nảy mình vì hiện nay ai cũng đã biết cái  “chủ nghĩa xã hội” đó là một bức tranh viễn tưởng huyền hoặc chưa ai từng thấy và ngay trong quá trình “quá độ đi lên” của nó đã là nguyên nhân gây ra biết bao nhiêu xương máu, nước mắt đau thương của nhân dân. “Cỗ xe CNXH bánh vuông” này có vẻ như đang luẩn quẩn trên sườn dốc trước khi tùng bê rơi xuống hố. Chính những phát biểu theo cung cách giáo điều đó đã góp phần làm nên danh hiệu “Trọng Lú” mà dân chúng từng gán cho ông.
Sự nhút nhát của ông Trọng trước Trung quốc được một số người thân cận của ông giải thích như một sự “khôn ngoan ngoại giao” không át được các đồn thổi về thái độ quá thân Tàu đã làm hình ảnh của ông trở nên mờ nhạt so với Thủ tướng Dũng.


Thủ tướng Dũng là một nhà lãnh đạo có dáng dấp, có tư thế, mạnh mẽ, mưu lược.
Tuy nhiên sự vỡ nát của các “quả đấm thép kinh tế nhà nước” như Vinashin, Vinaline…đã làm cho sự đánh giá về năng lực lãnh đạo và trách nhiệm điều hành kinh tế vĩ mô của Thủ tướng mất uy tín nghiêm trọng đến mức gần như đổ vỡ. 
Mặt khác, sự phát triển thần tốc và quy mô quá to lớn trong việc thâu tóm tập đoàn tài chính, ngân hàng của cô Thanh Phượng, con gái ông Dũng cộng với việc đưa con trai ông vào trung ương đảng đã làm cho người dân không thể không nghi ngờ về sự hỗ trợ chính trị mạnh mẽ và tính liêm chính của ông.
Thêm vào đó, sự chao đảo của con thuyền kinh tế Việt nam, lạm phát cao, các doanh nghiệp phá sản hàng loạt, bất động sản đóng băng trước nguy cơ đổ vỡ, chứng khoán ảm đạm cộng với hàng loạt các vụ bê bối tham nhũng của các quan chức thân tín đã làm cho hình ảnh đường bệ của Thủ tướng trở nên “tức con mắt” hơn là tự hào phấn khởi của người xem truyền hình.
Đối nghịch với hình ảnh của ông Trọng, ông Dũng là một bà Ngoại trưởng Mĩ, người đại diện ngoại giao cho một quốc gia cựu thù trong “hệ thống tư bản giẫy chết” mà hiện nay Việt nam đang có gần 15.000 sinh viên Việt theo học hàng năm.
Tôi rất “giận” bà Ngoại trưởng khi bà thẳng thừng phát biểu: “Tôi biết có một số người lập luận rằng, phát triển kinh tế cần phải đặt tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu, còn lo nghĩ về cải cách chính trị và dân chủ thì hãy để sau, nhưng đó là một kiểu mặc cả thiển cận. Dân chủ và thịnh vượng đi đôi với nhau, cải cách chính trị và tăng trưởng kinh tế liên quan với nhau”. 
Nói như vậy khác gì “mắng” vào mặt chủ nhà.
Hillary chẳng e ngại vòng vo mà còn nêu rõ chính phủ Obama “ lo ngại về vấn đề nhân quyền, bao gồm việc tiếp tục giam giữ các nhà hoạt động, các luật sư và các blogger phát biểu ý kiến ôn hòa (của phía Việt nam). Đặc biệt, chúng tôi quan tâm về các hạn chế tự do ngôn luận trên mạng, và phiên tòa sắp diễn ra để xử những người sáng lập (nhóm) được gọi là Câu Lạc bộ Nhà Báo Tự do”. 
Điều đặc biệt, không hiểu có thâm ý gì không trong việc bà Hillary Clinton chọn Đại học Ngoại thương làm nơi nói chuyện gặp gỡ sinh viên Việt nam? 
Lựa chọn này làm tôi hơi chạnh lòng nghĩ đến bà Nguyễn Thị Doan, người nghe đâu đã có thời gian công tác ở trường đại học Ngoại thương, Thương mại. (không rõ hôm đó có ngồi lẫn trong đám cử tọa không), bà Doan nổi tiếng như sóng cồn dồn bờ khi  một dạo có phát ngôn ấn tượng nhất năm: “Dân chủ ở Việt nam cao hơn gấp vạn lần dân chủ các nước tư bản”.
Về việc này nếu bà Hillary “cố tình” thì sẽ làm tôi giận bà thực sự vì tôi “thích huân chương” mà bà Doan hiện nay là người nổi tiếng nhất trong việc đi cắt băng khánh thành và gắn huân chương khắp trong Nam ngoài Bắc kể cả doanh nghiệp làm ăn ở nước ngoài.
 
 
Sáng nay có một bình luận trên Facebook nêu việc “đề nghị bà Hillary đẩy xe giúp cho cụ bà Lê Hiền Đức đi từ Nhà hát lớn thành phố và làm một vòng bờ hồ để ủng hộ Quốc hội ra luật biển đảo, chống chủ nghĩa bá quyền đại Hán”. 
Theo tôi đây không phải là một ý tưởng không nghiêm túc. Tuy nhiên tôi rất lo ngại cho an ninh của bà Hillary nếu bà nhận lời. Việc đó có thể dẫn bà Hillary đến với cơ quan cảnh sát điều tra Việt nam. Bà rất có thể bị công an Hà nội quy kết là "gây rối TTCC" và còn trở thành “tòng phạm” với cụ Lê Hiền Đức bởi ngay ngày hôm qua, việc cụ Đức đi biểu tình chống Trung quốc, ủng hộ Quốc hội vẫn còn bị công an Hoàn kiếm tống đạt cái “trát mời lần thứ I” đến đội cảnh sát điều tra công an Hoàn kiếm "làm việc" về việc “gây rối TTCC”. (Công an họ viết tắt như vậy muốn dịch thế nào thì dịch phụ thuộc khả năng tưởng tượng phong phú hay là nghèo nàn của mỗi người).
 
Nói về chuyện biểu tình chống Trung quốc, nhân đây tôi cũng muốn nói về một con số ấn tượng trong ngày 1/7 là ngày thành lập đảng cộng sản Trung quốc. 
Hongkong thuộc Trung quốc có 7 triệu dân nhưng ngày 1/7 đã có nửa triệu người đi biểu tình chống Trung quốc. Tỷ lệ đó là quá cao so với Việt nam khi ngày 1/7 cả Hà nội và Sài gòn cộng lại mới chỉ có cỡ 3000 người xuống đường so với gần 90 triệu dân. Điều đó cho thấy nhân dân Việt nam được đảng giáo dục rất tốt, yêu Trung quốc hơn cả người Trung quốc.
 

Như đã nói từ đầu entry này, tôi đã âm thầm suy nghĩ rất nhiều về đời sống riêng của bà ngoại trưởng Hoa kỳ, những hy sinh của bà trong đời sống cá nhân cho nước Mĩ  và so sánh với các nhà lãnh đạo của đất nước chúng tôi. 
Tôi không muốn nói thêm nữa. Bởi biết nói gì khi những điều nói ra có thể sẽ là không phù hợp với tuyên bố mới đây của Liên hợp quốc coi “Quyền tự do sử dụng, phát biểu tư tưởng trên Internet là quyền cơ bản của con người”.
Có thể mượn mấy câu thơ của cố thi sỹ Nguyễn Du nói về thân phận của một con người hay rộng ra có thể ứng vào một đất nước:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

 

10 thg 7, 2012

Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng?

PHẦN ICông tác nhân sự đã “cơ bản hoàn thành”
Thời gian đang chuyển dần về giữa năm. Hà Nội cũng đang chìm trong cơn nắng nóng tăng nhiệt theo từng tuần lễ, cùng với những trận giông bão khó có thể lường trước trong năm con Rồng này. Sự biến đổi về thời tiết như thế cũng tiềm ẩn những toan tính âm thầm trong nội bộ đảng và chính phủ. Sau vài vụ cưỡng đoạt đất đai ở Tiên Lãng và Văn Giang, dư luận càng đồn đoán nhiều hơn về một vị tổng thống trong tương lai không xa của đất nước Việt nam hậu cộng sản.
Đó là Nguyễn Tấn Dũng.
Chưa bao giờ kể từ năm 1975 cho đến nay, vai trò của thủ tướng lại trở nên đáng giá và hướng đến hình ảnh độc tôn như giờ đây. Được tích lũy qua hai nhiệm kỳ thủ tướng, gần như toàn bộ khối nhân sự của những bộ ngành quan trọng nhất đang thuộc về những chủ kiến sắp xếp và điều hành của Nguyễn Tấn Dũng.
Từ tháng 8/2012, khi chính phủ mới được thành lập và nhận được sự đồng thuận hầu như không một chút khó khăn từ Quốc hội, người ta đã có thể nhận ra những gương mặt thân cận nhất với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như Nguyễn Văn Bình – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Vương Đình Huệ – Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bùi Quang Vinh – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đinh La Thăng – Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải… Chưa kể đến một số hội đồng và ủy ban đóng vai trò tư vấn cho chính phủ cũng bao gồm những người được cho là thuộc phe cánh của Nguyễn Tấn Dũng.
Mối tương quan trong đảng giờ đây đã trở nên lệch hẳn về đầu cân chính quyền. Ở đầu cân bên kia, Trương Tấn Sang, bất chấp nhiều cố gắng để tự PR bản thân, nhưng ứng vào vai trò Chủ tịch nước – một vị trí mà trước và sau đều thật khó biểu hiện quyền lực, và thực tế là hầu như không có một quyền lực thực chất nào, đã trở nên mờ nhạt, đặc biệt sau vụ nữ đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến, cùng quê Long An với ông Sang, bị Quốc hội bãi nhiệm.
Trên con đường hành sự của mình, thực ra Trương Tấn Sang đã có nhiều cơ hội để tiến thân và trở nên một nhân tố nào đó mang tầm đối trọng với Nguyễn Tấn Dũng. Thế nhưng với sự yếu kém cố hữu về công tác nhân sự và quan điểm dùng người rất thiếu nhất quán mà đã không thể được cải thiện từ khi ông Sang còn là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố và Bí thư Thành ủy TP.HCM, chính ông đã đánh mất những cơ hội đáng quý của mình.
Tại đất Bắc Hà, nơi hội tụ quá nhiều nhân sĩ và kịch sĩ, có thể nói chỉ riêng việc ông Sang tồn tại được trong suốt nhiều năm trời mà không bị tuột dốc về mặt chính trị cũng đã là một niềm an ủi lớn đối với ông. Chỉ có điều, để đạt được hiện tồn có vẻ bền vững ấy, bản thân ông đã phải trả giá khá nhiều. Không còn tỏa sáng với hình ảnh một vị lãnh đạo năng nổ và nhiều ý kiến sáng tạo, ông đã dần lui vào hậu trường với nhiều uẩn ức không thể biểu hiện bằng lời nói và càng không thể bộc lộ qua hành vi. Một số người thân quen với ông ở TP.HCM đã phải ngạc nhiên khi bình luận khuôn mặt ông như được làm bằng sáp, với nét chân tình đã chỉ bằng phân nửa người tiền nhiệm của ông – nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.
Một hình ảnh độc tôn
Ngược lại với Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng – với quầng mắt hùm hụp thâm sâu qua ngày tháng, lại được xem là một nhân tố nổi bật trong việc dùng người và đối nhân xử thế.
Với các danh sĩ trong lịch sử, việc dùng người thường có hai chiều hướng trái ngược: hoặc biết sử dụng người giỏi hơn mình và qua đó chứng tỏ mình là người giỏi, hoặc dùng người kém hơn mình và phải biết nghe lời. Có lẽ Nguyễn Tấn Dũng thuộc về trường hợp thứ hai, cũng bởi trong con mắt tuyệt đại đa số nhân dân và giới quan chức, đây không phải là một vị thủ tướng có đầy đủ sự sáng dạ và quyết đoán. Thậm chí trong nhiều trường hợp và nhiều chủ đề khẩn cấp, Nguyễn Tấn Dũng đã tỏ ra chậm chạp một cách không đáng có. Tầm nhận thức của ông, so với Trương Tấn Sang, được người đời đáng giá thấp hơn.
Thế nhưng tất cả những gì mà Nguyễn Tấn Dũng có được đến giờ này lại thuộc về công lao của tự thân ông. Đó là một quá trình đấu tranh và vươn lên không mệt mỏi, để cuối cùng phần lớn bộ máy nhân sự chính quyền các cấp, từ trung ương đến các địa phương, đều được đánh giá là vây cánh cho ông.
Lợi thế lớn nhất của Dũng là cương vị Thủ tướng – vị trí có thể ban phát rất nhiều bổng và lộc cho những địa chỉ cần được ban phát. Từ nhiều năm qua, trong con mắt của lớp quan lại thăng quan tiến chức nhờ luồn lọt và ân sủng của bề trên, Nguyễn Tấn Dũng đã trở thành một ông vua không ngai. Mà thực tế với quyền lực tối hậu và vẫn có chiều hướng được tập quyền hóa của mình, Dũng cũng chẳng cần đến ngai, nếu tình thế không bắt buộc phải như thế.

Vị thế của Nguyễn Tấn Dũng càng được củng cố không chỉ trong đối nội mà còn trên trường đối ngoại, sau lời đề nghị viếng thăm Brazil nhưng bị từ chối của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Rõ là trong tầm quan sát của chính giới quốc tế và ở cả những quốc gia đang phát triển, một con người quá nhu mì, luôn tìm cách tỏ ra ôn hòa như Trọng đã chẳng thể hiện được vị thế lớn lao nào. Nói cách khác, ông có vẻ chưa xứng đáng đại diện cho tầm cỡ quốc gia để đứng cùng hàng hoặc ngang hàng với các nguyên thủ quốc gia khác. Cũng nói cách khác, đặc tính chính trị thời nay không cần đến những chính trị gia quá khuôn sáo hoặc giáo điều, cho dù đó có là người vô hại nhất đi chăng nữa.
Tài sản và quyền lực
Giữ được quyền lực cũng có ý nghĩa không kém thua so với giành giật quyền lực. Những gì mà Nguyễn Tấn Dũng giành được trên chính trường đã để lại sự trả giá cho cả một nền kinh tế đang trong tình cảnh suy thoái trầm kha và một xã hội hầu như biến mất nền tảng đạo đức và văn hóa. Thế nhưng điều được gọi là sự sói mòn niềm tin công dân đối với chính phủ có lẽ không thể quan trọng bằng việc chính phủ ấy duy trì được quyền lực và hơn thế nữa, các quan chức chính phủ gìn giữ được tài sản đã tích góp qua nhiều năm.
Nhưng với Nguyễn Tấn Dũng, sau khối tài sản khổng lồ mà có thể sánh ông với những đại gia giàu có nhất vùng Đông Nam Á, cái mà ông cần không chỉ là tiền bạc.
Con đường bằng phẳng nhất, diễn biến một cách hòa bình nhất vào những năm tới chỉ có thể là một cuộc chuyển giao quyền lực êm ái, một cuộc cách mạng nhung mà không phải đổ máu.
Những gì mà Bắc Kinh đang buộc phải tính toán thì Hà Nội cũng không nằm ngoài kịch bản đó. Trước làn sóng công phẫn của người dân ngày càng lan rộng và có thể đạt đến một điểm kích nổ vào bất kỳ thời điểm nào, một chính phủ muốn duy trì vị thế của mình, và trên hết là vị thế bảo đảm cho các tập đoàn độc quyền quốc doanh và những tập đoàn tư nhân mới nổi như nhóm lợi ích ngân hàng, trong đó có Ngân hàng Bản Việt của con gái Nguyễn Tấn Dũng, có điều kiện để tiếp tục đè gánh nặng tham nhũng và thủ lợi lên đôi vai gày guộc của người dân đóng thuế và các thành phần doanh nghiệp khác, chỉ là tấm bình phong dân chủ cần phải được dựng lên càng khéo léo càng tốt.

Vào tháng 11/2011, lần đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho giới phân tích trong và ngoài nước ngạc nhiên bằng hành động tuyên bố về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước Quốc hội, đồng thời trở thành quan chức cao cấp đầu tiên trong đảng đề xuất đất nước cần có một bộ luật biểu tình.
Với những người ngây thơ, thái độ thay đổi bất ngờ của Nguyễn Tấn Dũng là có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh bộ mặt quốc gia cần có sự cải thiện ít nhất về phấn sáp. Nhưng những người có kinh nghiệm trong giới phân tích chính trị và cả báo chí lại đã tỏ ra đặc biệt thận trọng. Không chính khách nào cho không ai cái gì, cũng như không hành động nào của chính khách lại không xuất phát từ một động cơ cụ thể. Nhất là sau sự việc người con trai của Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Thanh Nghị được tiến cử vào vị trí Thứ trưởng Bộ Xây dựng, còn con gái của ông là Nguyễn Thanh Phượng lại nắm giữ vị trí chủ chốt tại một ngân hàng tư nhân rất có tiềm năng là Bản Việt…
Với vai trò độc tôn trong hệ thống chính quyền và gần như độc tôn trong cả hệ thống đảng, những gì mà Nguyễn Tấn Dũng cần làm giờ đây và trong tương lai là gìn giữ được quyền lực và tài sản của ông và của gia đình ông. Về việc này, những người như Nguyễn Tấn Dũng chắc chắn đã suy ngẫm một cách hết sức nghiêm túc, vì khác với các nước phương Tây, Việt Nam lại quá gần Trung Quốc, luôn kế thừa quốc gia khổng lồ này không chỉ vô số thủ đoạn chính trị mà cả những hậu quả chính trị không thể lường trước.
Trong lịch sử Việt Nam qua các triều đại, đã có nhiều cuộc cách mạng với nhiều đợt hồi tố mà đã làm tiêu tán tàn sản lẫn tính mạng của những quan chức thuộc triều đại cũ. Còn hiện tại, vị thế của chính quyền đương nhiệm lại quá khó để tồn tại thêm một thời gian đủ dài, đủ lâu cho các quan chức hưởng thụ khối tài sản tích cóp từ nhân dân.

Nhưng quá trình tích cóp vô thiên lủng như thế cũng lại gây ra một sự phát tác theo chiều hướng ngược lại: đến lúc này, ngay cả những quan chức lạc quan nhất trong đảng cũng phải thừa nhận số phận của đảng cầm quyền chỉ còn được tính theo đơn vị từng năm một. Đã có không ít kẻ âm thầm dịch chuyển tài sản, tiền bạc và cả người thân ra nước ngoài – một biểu hiện hoàn toàn tương đồng với giới quan chức Trung Quốc. Cũng đã có những đồn đoán không mấy thầm kín về một khả năng biến động mạnh sẽ diễn ra vào những năm 2014-2015, khi không khí phẫn uất của người dân đã tích lũy đủ lớn để có thể tạo ra sự đào thải chính quyền từ chính bản chất của nó.

Sẽ là “Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng”?
Ngã rẽ duy nhất trong cơ chế chuyển giao quyền lực không đổ máu và ít hao tiền tốn của chỉ còn là động thái thỏa hiệp với nhân dân – một thứ nhân dân giả hiệu nào đó do giới quan chức nặn ra, hoặc cùng lắm thì mới phải thảo luận về dân chủ với những người đối lập với chính quyền – nhưng lại được đại đa số xem là nhân dân đích thực.
Cũng bởi thế, không khó để đoán ra cái đích mà Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới trong tương lai không xa là một cuộc chuyển giao quyền lực, hay nói cách khác là sự thay đổi vị trí quyền lực, từ vai trò thủ tướng sang vai trò của một người đứng đầu quốc gia trong điều kiện hiến pháp được cách mạng hóa. Để có được kết quả ấy, một cá nhân có thể sẵn sàng hy sinh cả điều 4 Hiến pháp và sẵn sàng chối bỏ tư tưởng cộng sản – điều mà từ lâu họ đã không còn thuộc về nó, nhưng lại vẫn cần nó vào bất cứ hoàn cảnh nào cần phải bảo vệ quyền lực của mình. Cũng có nghĩa là một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân sẽ sẵn lòng chấp nhận cơ chế chính trị nhiều hơn một đảng hoặc nhiều đảng nhưng có vẻ ổn định và đỡ tốn xương máu, thay cho lối mòn độc đảng quá rủi ro và chỉ chực chờ bùng nổ như hiện nay.
Vấn đề còn lại chỉ là cuộc đấu tranh giữa các phe phái xem ai có thể trở thành thủ lĩnh dân tộc trong tương lai, bất kể người dân có muốn bầu cho họ hay không. Không phải các thành viên của Bộ Chính trị đảng không tơ tưởng về vấn đề nhạy cảm của thủ tướng. Thậm chí từ nhiều năm trước đây, một phương án chuẩn bị cho Đảng Cộng sản tiến hành tranh cử trong điều kiện đa đảng đã được chấp bút. Chỉ có điều, như một thông lệ bất thành văn, trước khi Bắc Kinh lên tiếng chính thức về một chủ đề cực kỳ quan trọng nào đó, không một ai trong giới lãnh đạo Việt Nam dám thở mạnh.
Những ngày gần đây, lần đầu tiên có dấu hiệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng bắt đầu tìm cách nổi lên như một quyền lực mới, tuy còn rất mỏng manh. Cùng với Trương Tấn Sang, đó sẽ là những thách thức đầy ngán ngại đối với Nguyễn Tấn Dũng trên con đường vươn tới cơ chế cộng hòa đại nghị và chức vị tổng thống Việt Nam của ông.
Ít nhất, đó cũng là một giấc mơ riêng của những quan chức như Nguyễn Tấn Dũng mà người khác không có quyền xâm phạm. Chỉ là không có bất kỳ sắc màu nhân dân nào trong giấc mơ đó mà thôi.
Từ nay trở đi, câu chuyện mà chúng ta đang kể sẽ còn tiếp diễn với những chi tiết phong phú và không kém quyến rũ, khiến những người đau đáu về hiện tồn và tương lai Việt Nam không thể bỏ qua. Cũng trong câu chuyện này, tâm điểm Nguyễn Tấn Dũng vẫn sẽ là một nhân tố mà chúng ta luôn cần quan tâm và cần luận bàn vào những thời khắc gay cấn nhất trên chính trường Việt Nam.
PHẦN II
Gió đang xoay chiều
Mùa hè oi bức cùng hơi thở nóng hổi của đợt chỉnh đốn đảng vào tháng 7/2012 đang phả vào gáy của các quan chức cao cấp. Gần một năm rưỡi sau Đại hội Đảng lần thứ 11 hồi đầu năm 2011, Thủ đô Hà Nội lại một lần nữa được sưởi ấm với những biến động tin đồn xuất hiện ngày càng dày đặc.
Một trong những tin hành lang gây chú ý nhất có lẽ là khả năng có thể phải ra đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào thời điểm giữa nhiệm kỳ, tức đầu năm 2013.
Tin đồn trên đã hiện hình cùng với một sự kiện nho nhỏ: Tô Linh Hương – ái nữ 24 tuổi của Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng Tô Huy Rứa – đã từ nhiệm chức vụ Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vinaconex chỉ sau hai tháng chấp nhiệm. Sự kiện này xảy ra vào những ngày cuối tháng 6/2012, tức chỉ còn chưa đầy một tháng trước khi đợt chỉnh đốn đảng được tiến hành.
Nhưng khác với loại tin đồn hành lang vào thời gian trước Đại hội Đảng lần thứ 11, lần này cái ghế thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng có vẻ bị thách thức nghiêm trọng bất thường. Cần nhớ lại rằng chỉ mới vào thời điểm cuối năm 2011, đầu năm 2012, đây vẫn là một địa chỉ mà người khác không thể lai vãng tới.
Như một quy luật, xu hướng chuyển biến nhân sự hầu như được tiếp nối ngay sau những biến động tiêu cực về kinh tế và tài chính. Vào lần này, khác hẳn với thời kỳ năm 2009 là lúc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước còn có thể kiểm soát được huyết quản của cơ thể kinh tế và còn tích lũy được một gói kích cầu 8 tỷ USD nhằm phục hồi các thị trường đầu cơ như chứng khoán và bất động sản, năm 2012 lại là hệ quả tất yếu của thời kỳ 2011 trượt dốc và đổ vỡ về hình ảnh doanh nghiệp.
Vào quý 1/2011 vừa qua, tại Hà Nội đã không hiếm lời bàn tán về khả năng Chính phủ phải cho in thêm tiền, thậm chí một phương án về đổi tiền cũng được đặt ra. Một phần ba số doanh nghiệp lâm vào tình thế phá sản, nhưng số còn lại vẫn hầu như không thể nào tiếp cận được “nguồn vốn vay giá rẻ” từ các ngân hàng. Tất cả những nghịch lý như thế đã khiến cho bộ máy được gọi là “tân chính phủ” – thành lập từ tháng 8/2011, trở nên chông chênh hơn bao giờ hết trước áp lực dư luận xã hội và sức ép chính trị từ những phe phái khác ngay trong Bộ Chính trị.
Hầu như khắp nơi trên đất nước, người ta xoáy vào một thực trạng và dằn vặt hơn là xu thế chuyên quyền của người đứng đầu Chính phủ. Điều đáng nói là trong suốt một thời gian dài, đặc biệt từ đầu năm 2011 đến nay, tính độc đoán của Nguyễn Tấn Dũng đã gần như chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích có vai trò độc tôn: ngân hàng.

Blog Quan Làm Báo
Không phải ngẫu nhiên mà vào đầu tháng 6/2012, cùng với làn sóng tin đồn về thay đổi nhân sự có thể diễn ra ở Hà Nội, một blog mới và hết sức ấn tượng cũng xuất hiện: Quan Làm Báo. Ngay từ “số ra” đầu tiên của blog này, người được đã nhận ra một nét khác biệt rất lớn so với nhiều blog khác. Đó là lần đầu tiên kể từ khi hiện diện tờ báo chui Người Sài Gòn vào năm 1998, rất nhiều tin tức nội bộ trong đảng và chính quyền đã được công bố bởi Quan Làm Báo. Trong đó, vai trò và những ảnh hưởng của thủ tướng gần như được gắn liền với hoạt động của những nhân vật được coi là cận kề như Nguyễn Văn Hưởng – nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, phụ trách về an ninh; Bầu Kiên, tức Nguyễn Đức Kiên, một nhân vật đã không còn giữ vẻ thầm lặng trong những lời dị nghị của giới đầu tư và tài chính Hà Nội, người đã mau chóng biến thành một “bố già” trên gương mặt đương đại quốc gia. Gắn bó đầy hữu cơ với Bầu Kiên lại là Nguyễn Văn Bình – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, người từng có thời là trợ lý đắc lực cho Nguyễn Tấn Dũng, giờ đây đang phủ sóng toàn bộ khu vực tín dụng quốc gia và siết chặt yết hầu tài chính đất nước…
Dường như cỗ xe cải cách nhân sự đang chuyển động gấp rút hơn. Những phân tích và quan trọng hơn cả là những bằng chứng chi tiết đáng ngạc nhiên được trưng ra bởi blog Quan Làm Báo về chiến dịch thao túng thanh khoản và và thâu tóm ngân hàng – diễn ra từ giữa năm 2011 đến nay, đã trở nên một mắt xích sống động nếu liên hệ với những động thái chính trị ở Hà Nội.
Câu hỏi cần đặt ra là những thông tin có tính đa diện của Quan Làm Báo hay dư luận râm ran ở Thủ đô liệu có phản ánh trung thực đời sống chính khách và hoạt động tài phiệt ở Việt Nam đương đại?
Một thực tế giản đơn mà hầu hết các giới chính yếu ở đất nước này đều nhận ra là cho dù những dị nghị của dư luận và blog Quan Làm Báo có bị coi là đồn thổi, vai trò cá nhân của Nguyễn Tấn Dũng cũng đã in quá đậm dấu ấn về hành vi dung túng cho các nhóm lợi ích bao cấp và ngân hàng. Bởi cho đến giờ, trong khi đang hiện diện những hậu quả ghê gớm không thể phủ nhận về tình hình đình đốn của nền kinh tế, lượng doanh nghiệp phá sản và kéo theo tỷ lệ thất nghiệp có thể không thua kém gì con số 25% của Tây Ban Nha, tình cảnh phân hóa về thu nhập giàu nghèo giữa 5% có thu nhập cao nhất với 5% thu nhập thấp nhất có thể đã lên đến 60-70 lần như hiện trạng nóng bỏng ở Trung Quốc.., nhóm tài phiệt ngân hàng vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt chiến dịch thôn tính đối thủ của họ.
Cũng cho đến giờ, đã có thể định hình một phát hiện có thể xem là khủng khiếp: để tiến hành và đạt kết quả thâu tóm nhau lẫn thâu tóm doanh nghiệp nằm trong tầm ngắm của mình, nhóm tài phiệt ngân hàng, với sự hỗ trợ trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước, đã chấp nhận biến nền kinh tế, doanh nghiệp và người lao động thành con tin của nó. Từ đầu năm 2011, bằng vào sự “vận dụng linh hoạt và uyển chuyển” Nghị quyết 11 về thắt chặt chi tiêu công và tín dụng, tiền mặt lưu thông trên hệ thống thị trường 2 (liên ngân hàng) đã được Ngân hàng Nhà nước rút mạnh về. Thiếu trầm trọng tiền mặt, thị trường 2 nhanh chóng rơi vào túng quẫn và vô hình trung đẩy lãi suất cho vay giữa các ngân hàng lên trên 20%, thậm chí có thời điểm gần 30%. Tương ứng, thị trường 1 (dân cư và doanh nghiệp) cũng lâm vào tình trạng khốn quẫn khi không được cung ứng đủ tiền để bù đắp cho hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Tình hình trầm kha như thế kéo dài cho đến tận cuối quý 1/2012, vào lúc mà nền kinh tế đã kiệt quệ, nhưng lại hoàn toàn tương phản với hình ảnh những ngân hàng như Eximbank, Vietcombank, kể cả một ngân hàng nhỏ như Phương Nam và lẽ dĩ nhiên không thể thiếu ngân hàng Bản Việt của con gái Nguyễn Tấn Dũng, đã gia tăng đáng kể bản đồ bành trướng ngoài lãnh địa của chúng.

Ngã rẽ nào?
Hoạt động thâu tóm của giới tài phiệt ở Việt Nam không chỉ nhằm mục đích kinh doanh và phát triển ảnh hưởng – như một hoạt động thường xuyên của thế giới tư bản tài chính. Chủ đề xã hội học cần bàn là thâu tóm đã trở thành một cái mốt của những kẻ lắm tiền nhưng vẫn cần nhiều tiền hơn, đồng thời chuyển hóa tiền thành một thứ quyền lực cụ thể. Trong lịch sử cách đây không quá lâu, người đời đã kết luận được nhiều bài học tiền – quyền như thế từ các tập đoàn mafia ở nước Nga hậu Liên Xô – cái nôi sản sinh ra tầng lớp mafia người Việt đầu tiên.
Rất có thể, chính sách lấn sân không chỉ về tài chính mà cả sang lãnh địa chính trị của Nguyễn Tấn Dũng và nhóm tài phiệt ngân hàng đã trở nên chủ quan và hãnh tiến đến mức khiến cho chính ông và những tập đoàn của ông phải nhận lấy quá nhiều phản ứng quyết liệt như ngày hôm nay. Lần đầu tiên kể từ lúc tại vị thủ tướng, sân sau của Nguyễn Tấn Dũng đang trở thành nơi hỗn chiến giữa các niềm đam mê. Khác hẳn với nửa cuối năm ngoái, giờ đây vị trí của Thủ tướng trong Bộ Chính trị gần như là một sự tách rời giữa chính quyền với đảng.
Không có sự đồng nhất, cũng không còn được đồng thuận bởi phần lớn nhân vật trong Bộ Chính trị, Nguyễn Tấn Dũng dường như đang tự cô lập mình. Ở một chiều kích ngược lại, sự xích lại gần nhau của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã kéo theo một số nhân vật khác – vốn trước đây theo quan điểm “chiết trung”.
Hãy trở lại với Quan Làm Báo. Dù chỉ là một trong vô số blog và còn sinh sau đẻ muộn, nhưng rất có thể đây chính là một tín hiệu chính trị. Cả việc từ nhiệm của người con gái của ủy viên Bộ Chính trị Tô Huy Rứa hay việc điều chuyển con trai của nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng thế – cũng có thể coi là những tín hiệu bất thường cho đợt chỉnh đốn đảng mà xu thế gần như tất yếu là tái sắp xếp về nhân sự. Những sự việc này lại diễn ra chỉ sau ít ngày nổi lên scandal Dương Chí Dũng, người đã được Thủ tướng ký quyết định bổ nhiệm và Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng – một người thân tín của Thủ tướng – bao che, khi Dũng bỏ trốn trước sự bất lực của toàn bộ ngành công an Việt Nam…
Điểm trùng hợp là cũng đã diễn ra một cuộc “chạy trốn” của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tại phiên họp thứ ba Quốc hội khóa XIII vào tháng 6/2012. Trong khi tuyệt đại đa số đại biểu quốc hội nhất trí cao về Luật Biển với chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa – một ý tưởng không in đậm dấu ấn đề xuất của cá nhân Thủ tướng, thì Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã “thu xếp” để Nguyễn Văn Bình không phải trả lời bất cứ một câu hỏi chất vấn trực tiếp nào về những khuất tất trong hệ thống ngân hàng.
Sự xuất hiện của Nguyễn Tấn Dũng cũng có vẻ thưa thớt hơn. Tiếng nói của ông, một thời có sức nặng trong Bộ Chính trị, giờ đây lại trở nên xao xuyến hơn bởi thói quen nói vo.
Dường như sự tương phản trong một nhân vật – có thể được coi là có ngoại hình “chính khách” nhất trong Bộ Chính trị Việt Nam – với tật nói vo thiếu tư duy đang biểu hiện rõ hơn.
Nếu ai đó dị đoan đôi chút vào mối liên hệ giữa sự thay đổi của giọng với số phận của con người, thì hàng loạt hệ lụy có thể xảy đến với Nguyễn Tấn Dũng và các cộng sự của ông trong những tháng tới. Hàng loạt nước cờ gai góc mà ông đang phải buốt đầu tính toán, trước khi nghĩ đến vai trò tổng thống đất nước của mình trong tương lai. Chẳng hạn là sự an toàn theo đúng nghĩa đen đối với Nguyễn Thanh Phượng – con gái ông ở Ngân hàng Bản Việt; cũng như thân phận của Nguyễn Thanh Nghị – con trai của ông ở Bộ Xây dựng – làm sao có thể thoát được câu chuyện “hồi tố” như số phận con trai Nông Đức Mạnh; hoặc khả năng tồn tại mà không bị lật đổ hay bị tiêu diệt của nhóm tài phiệt ngân hàng, trong khi vẫn phải tiếp tục duy trì mục tiêu thâu tóm và bành trướng, đồng thời ngay trước mắt phải giải phóng khối hàng tồn kho khổng lồ về vốn và bất động sản…
Nhưng quan yếu hơn cả là vấn đề của bản thân Nguyễn Tấn Dũng. Nói một cách bóng gió, sự tồn tại của ông như thể đang giữa ngã ba đường, khi cả hai ngả đường rẽ về Trung Quốc và Mỹ đều đã bị án ngữ bởi những vật cản tăng tiến theo cấp số nhân.
Chẳng lẽ người từng xưng là “công bộc” chỉ còn cách quay trở về với nhân dân?

PHẦN III
Vết xước
Câu chuyện “Vua Lê Chúa Trịnh” một lần nữa tái hiện trong lịch sử Việt Nam. Những mẩu chuyện về người đang nhắm đến chiếc ghế tổng thống đầy ân oán cũng bởi thế chưa thể chấm dứt.
Một vết xước trực tiếp đã cày xới trên cánh tay phải của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lần đầu tiên kể từ khi tại vị từ tháng 6/2006, người được giới bình luận chính trị coi là đã tạo ra ảnh hưởng lớn nhất trong chính giới và các thị trường đầu cơ ở Việt Nam, đã buộc phải thoái lui một nước cờ quan trọng.
Gần như trùng với thời điểm Tô Linh Hương – con gái ruột của Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Tô Huy Rứa – được chính Ủy viên Bộ Chính trị này “quyết định” cho thôi chức vụ chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Vinaconex ở Hà Nội, người con gái ruột của Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Tấn Dũng cũng tự nguyện rời khỏi chức vụ tổng giám đốc Ngân hàng Bản Việt tại Sài Gòn. Tuy vậy, hơn một tuần sau sự kiện này, bản bố cáo của Bản Việt mới được công khai.
Không có mối quan hệ quá thân mật với Thủ tướng, ông Tô Huy Rứa đã tỏ ra khôn ngoan khi biết giữ gìn những lề lối của đảng, nhất là khi lề lối ấy ứng với một trong 19 điều đảng viên không được làm. Thế nhưng vô hình trung, chính cử chỉ thận trọng của người phụ trách nhân sự đảng đã khiến cho một đảng viên như ông Nguyễn Tấn Dũng không thể xem thường.
Hơn nữa, so với Tô Linh Hương còn ở tuổi thiếu nữ và chưa hề có kinh nghiệm điều hành dù một doanh nghiệp nhỏ, Nguyễn Thanh Phượng lại được xem là nữ doanh nhân rất nổi bật ở Việt Nam với nhiều vụ việc can thiệp chính thức cũng như bất thành văn vào một số ngân hàng thương mại cổ phần như Phương Nam, Sài Gòn Thương Tín và một trong những mỏ niken lớn nhất thế giới là Núi Pháo.
Với bề dày thâu tóm và những thành công quá dễ dàng như thế, Nguyễn Tấn Dũng có nhiều lý do để tự hào về sự “trong sáng” của con gái mình, nếu nhìn lại quá khứ buôn lậu và giết người của con trai người tiền nhiệm của ông Dũng – Thủ tướng Phan Văn Khải.
Thái độ tự hào trên cũng nên xuất phát từ tầm vóc của nữ doanh nhân chỉ mới ba mươi tuổi. Khác hẳn với lộ trình tiến thân của Nguyễn Thanh Nghị luôn phải trông chờ vào cái bóng khổng lồ của người cha, Nguyễn Thanh Phượng lại đã tạo ra được một thế đứng tương đối độc lập, mà trong một số trường hợp có thể được xem như một “quốc vụ khanh” của Chính phủ.
Với những ảnh hưởng về tầm hoạt động và xu thế chuyên sâu hóa như thế, không ngạc nhiên khi bên cạnh người con gái của Thủ tướng luôn có mặt những nhân vật bộ trưởng và mang hàm bộ trưởng, mà điển hình là Nguyễn Văn Bình – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, hoặc những nhân vật chưa từng là bộ trưởng nhưng vẫn có thể sắp xếp cả chức vụ bộ trưởng như Nguyễn Đức Kiên.
Cũng cần nói thêm, từ năm 2011 đến nay, người được gọi là Bầu Kiên đã chính thức lộ ra từ vùng tối khi đặt cả hai chân vào chính giới Việt Nam.
Nhiễm trùng
Chỉ có điều, bước tiến quá mạnh mẽ của những người được coi là lớp chính khách tương lai cho Việt Nam đã tạo ra sự va chạm mạnh mẽ không kém với nhiều nhân vật thế lực khác, kể cả những xung đột ở thế kiêu binh với một số cơ quan có quyền lực đặc biệt.
Lòng tham vô độ luôn là nguồn cơn đẩy con người vào trạng thái thoái hóa nhân tính ở cấp độ cao. Nếu nhóm Nguyễn Đức Kiên, Trầm Bê, Hồ Hùng Anh, Nguyễn Thanh Phượng, Nguyễn Văn Bình… đã dám hy sinh cả nền kinh tế cùng các doanh nghiệp chỉ nhằm phục vụ cho chiến lược thâu tóm chưa từng có trong lịch sử ngành ngân hàng và doanh thương Việt Nam, cũng như để thỏa mãn cho họ với một loại quyền lực không ngai, thì thật khó có thể tìm ra một dấu vết xót thương nào từ lớp người này đối với đồng nghiệp và hơn thế là đồng loại của họ.
Vết xước trên cánh tay phải của Nguyễn Tấn Dũng cũng vì thế mà có khả năng nhiễm trùng sâu, thậm chí có triển vọng hoại tử cục bộ. Dù là một nhân vật đã tôi luyện được ngoại hình ăn ảnh nhất so với tất cả những người còn lại của Bộ Chính trị, nhưng thâm niên công tác cùng chủ nghĩa kinh nghiệm đã không thể xóa mờ cố tật năng lực kém cỏi của Nguyễn Tấn Dũng trong điều hành các vấn đề kinh tế – xã hội.
Cũng tương tự như bài học của nhiều doanh gia mất thương hiệu khi mở rộng quy mô quá lớn mà không tương xứng với khả năng quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro, Nguyễn Tấn Dũng đã không thể bao quát được toàn bộ các hoạt động của thế lực đen mà ông ta đã dung túng trong nhiều năm qua. Kết quả là những nhân sự ưng ý nhất của Dũng lại có thể biến thành gót chân asin của chính ông.
Nguyễn Văn Bình gần như là một minh họa cho hình ảnh gót chân asin như thế. Vào những ngày gần đây, tuy vẫn gắn bó như hình với bóng với Thủ tướng, nhưng người đứng đầu Ngân hàng nhà nước đã bộc lộ một vài biểu hiện kín đáo, mà theo giới ngân hàng thì hành động đó chẳng khác mấy với tư duy “chạy tội”.

Trong 6 năm qua và đặc biệt là từ tháng 8/2011 đến nay, có quá nhiều đầu dây mối nhợ móc xích với nhau theo công thức Thủ tướng – Văn phòng Chính phủ – Ngân hàng Nhà nước – Ngân hàng thương mại, mà trong đó những vụ án kèm theo khoản lỗ khổng lồ như Vinashin, Vinalines đều là những dẫn chứng điển hình.
Về một nốt ruồi nửa đỏ nửa đen tiệm cận khóe mắt phải, đã có người điềm chỉ Bình như một nhân cách có dấu “Phản”. Trong thực tế, khôn ngoan, có học vị tiến sĩ và được trang bị chuyên môn lồng ghép từ hai thế giới cộng sản lẫn tư bản, nhưng thâm sâu nhất vẫn là buộc Thủ tướng phải phụ thuộc vào chuyên môn phức hợp của mình, Nguyễn Văn Bình đã trở thành cái đai quần không thể không có của Nguyễn Tấn Dũng, để từ đó người ta có thể xác quyết rằng sinh mệnh chính trị của hai nhân vật này gần như tồn tại song trùng với nhau.
Lằn ranh nguy biến
Làn sương mù buổi sáng vẫn chưa đến nỗi quá mờ mịt đối với Nguyễn Tấn Dũng cùng nhóm thế lực ngầm của ông.
Nhìn nhận một cách khách quan, cho tới giờ thế thượng phong vẫn cơ bản nằm trong tay nhóm tài phiệt ngân hàng. Một thông tin sâu xa của blog Quan Làm Báo (lại là blog ấn tượng này mà sắp tới chúng ta cần có một bài bình luận riêng) cho biết sau giai đoạn đầu tiên của chiến dịch thâu tóm ngân hàng, nhóm tài phiệt kia đã chiếm đến 35% thị phần tín dụng cả nước. Thông tin này cũng khá gần gũi với ước đoán của giới chuyên môn ngân hàng.
Trong thực tế, tỷ lệ 35% đó quan yếu đến mức trong những tình thế bị đe dọa cận kề, những phương án phản công của nhóm tài phiệt ngân hàng như ngưng hoạt động giao dịch của hệ thống ngân hàng trên toàn quốc, thậm chí tạo ra cú sốc giả từ một chiến dịch đổi tiền thật… đều có triển vọng mang lại kết quả không tồi.
Đó cũng chính là những con bài tiềm tàng nhằm đối phó với sự can thiệp nguy biến của đợt chỉnh đốn đảng ngay trước mắt – được khởi xướng bởi những chính khách hoàn toàn không nắm được chuyên môn sâu về tài chính và ngân hàng như Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang.
Cuộc đấu tranh giữa các nhóm quyền lực đã tiến đến lằn ranh không khoan nhượng, ngay cả sự thỏa hiệp dự kiến cũng khó được thiết lập bởi lòng tham quá độ từ ít nhất một phía.
Ngay tại lằn ranh này, không có chỗ đứng cho các lý thuyết gia.
Thử thách đang lớn dần và không phải ai cũng vượt qua được. Một cuộc thăm dò tín nhiệm trong nội bộ đảng gần đây đã mang lại kết quả không thể tồi tệ hơn đối với Nguyễn Tấn Dũng: ông chỉ nhận được chưa đầy 8% số phiếu tín nhiệm – một tỷ lệ kinh hoàng nếu so với mức độ từ 80-90% đại biểu quốc hội luôn phải chấp nhận vị trí thủ tướng của ông như một phương án duy nhất vào các kỳ bầu bán.
Nhưng ở một thái cực khác, chỉ cần vượt qua được đợt chỉnh đốn đảng vào tháng 7/2012, Nguyễn Tấn Dũng và các đồng sự của ông sẽ có cơ hội để củng cố thế lực ngay trước thời điểm giữa nhiệm kỳ 2013, bất chấp sự thay đổi nhân sự được dự kiến, trong đó có cả vài phương án được tập thể Bộ Chính trị chọn để thay ông.
Dù không giỏi giang trong điều hành đất nước, nhưng nước cờ tạm thoái lui trên “mặt trận” Bản Việt cho thấy con sói đang tìm cách giấu mình để vừa trị thương, vừa chuẩn bị cho một cú tung mình vồ mồi dữ dội hơn.

Đến giữa năm 2013, nếu mọi chuyện diễn tiến tốt lành thì nhóm tài phiệt ngân hàng cùng với người con gái khả ái của Nguyễn Tấn Dũng – nhân vật vẫn không thể buông rời vai trò then chốt, sẽ có thể hoàn thành sứ mạng lịch sử với đợt thâu tóm giai đoạn 2 và hoàn chỉnh chiến dịch thâu tóm ngân hàng, từ đó có thể đẩy thị phần tín dụng của họ lên ít nhất 60% hoặc 70% – tỷ lệ chi phối gần như tuyệt đối các huyết mạch kinh tế và thậm chí còn có thể là tiền đề cho một cuộc đảo chính không tiếng súng ngay trong Bộ Chính trị.

Quyết tâm còn lại
Trước mắt, mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường như mặt hồ phẳng lặng. Người dân vẫn đang dần được thuyết phục là nền kinh tế đã lập đáy, đang chuẩn bị thoát đáy và sẽ vượt dốc.
Vào thời điểm sát cuối quý 2/2012, lần thứ năm liên tiếp kể từ tháng 3/2012, Ngân hàng nhà nước lại hạ lãi suất điều hành – động thái khiến cho chính HSBC, một ngân hàng quốc tế có chi nhánh ở Việt Nam, phải tỏ ra ngạc nhiên. Đồng thời, lãi suất cho vay tín dụng đối với doanh nghiệp xuất khẩu cũng được Bộ Tài chính giảm mạnh từ 14,4% về 11,4%. Những tín hiệu bơm tín dụng, và hơn thế nữa là có thể bơm rất mạnh, đang xuất hiện. Cũng bởi thế, con số hơn 70.000 tỷ đồng mà Ngân hàng nhà nước cùng các ngân hàng thương mại có thể đẩy vào nền kinh tế cho mỗi tháng trong nửa cuối năm 2012 là một khả năng không xa vời.
Thời gian không chờ đợi nữa. Ngay vào những tháng tới, khối ngân hàng cần phải giải phóng lượng vốn tồn kho giá rẻ của họ. Cần phải làm tất cả những gì cần thiết để các doanh nghiệp và đặc biệt là khách hàng cá nhân cảm thấy nền kinh tế đang được bồi bổ sức sống một cách thực chất, từ đó sức cầu mới được cải thiện và hàng trăm ngàn căn hộ cao cấp tồn kho mới có triển vọng lọt vào mắt xanh những khách hàng ngây ngô.
Những điều kiện của kinh tế thế giới cũng đang trở nên ưu ái cho tính toán của nhóm tài phiệt ngân hàng Việt Nam. Từ đầu tháng 6/2012, các chỉ số chứng khoán chủ chốt của Hoa Kỳ như Dow Jones, S&P và Nasdaq đã có dấu hiệu lập vùng đáy tạm để chuẩn bị cho một đợt phục hồi mới. Cùng lúc, thị trường nhà ở Mỹ trở nên khả quan nhất so với toàn bộ gần hai năm trước đó. Dù gói kích thích QE3 vẫn chưa được Cục Dự trữ liên bang Mỹ tung ra, nhưng cơ chế bơm tín dụng cho thị trường tại quốc gia này đã khởi phát.
Cùng lúc, những tín hiệu tái khởi động kênh cung cấp tín dụng cũng dần hiện ra ở Trung Quốc.
Bối cảnh đối ngoại đó quả là thuận lợi không nhỏ cho nền kinh tế cùng các thị trường đầu cơ Việt Nam “thoát đáy”.

Vụ án Nguyễn Tấn Dũng?
Ở vào tư thế khó xử không kém Nguyễn Tấn Dũng, những người đứng đầu đảng và nhà nước chỉ còn cách dựa vào những cơ quan đặc biệt, nếu họ biết cách làm điều đó.
Nếu Tổng Bí thứ Nguyễn Phú Trọng cho rằng việc thông qua Luật Biển với tỷ lệ nhất trí tuyệt đối tại Quốc hội là “một thành công lớn”, thì có lẽ chuyện ông giành lại Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng từ tay Thủ tướng còn là thành công lớn hơn nhiều.
Sau một thời gian khá dài bị sáp nhập vào Văn phòng Chính phủ, cơ quan nội chính của đảng lại có cơ hội để khẳng định vị trí độc lập tương đối của mình. Hơn lúc nào hết, đảng cần đến Ban Nội chính, không phải chỉ với tư cách tham mưu như trước đây, mà cùng với Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng, đây là những vũ khí sắc bén còn lại cho cơ hội có thể là cuối cùng của Tổng bí thư và hai phần ba Bộ Chính trị của ông.

Trong số các cơ quan đặc biệt phải được đảng trọng dụng, một thế lực tiềm tàng nhưng dường như bị quên lãng trong dĩ vãng từ sau vụ T4 năm 2003, có thể sẽ được tái tạo vùng phủ sóng. Đó là Tổng cục 2 của Bộ Quốc phòng.
Trong ý thức về vận mệnh quốc gia, bao giờ quân đội cũng là nơi khô ráo nhất dưới nóc nhà bị dột nát. Sự chuyển biến khác thường đã đến trong thời gian gần đây, khi không ít tướng lĩnh quân đội bày tỏ thái độ hoàn toàn bất mãn trước những gì mà chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang hành xử với xã hội và dân tộc. Trong con mắt và trái tim của họ, Tổ quốc không đáng bị hành hạ đến mức như thế.
Mọi chuyện đang bị đẩy đến trạng thái “quyết liệt” – từ ngữ mà Nguyễn Tấn Dũng hay dùng để mô tả những cố gắng mang sắc màu mị dân của ông. Nhưng làm sao tình thế sẽ trở thành sự đồng điệu giữa các phe phái tranh chấp như một cơ chế “win – win”, cả hai cùng thắng?
Cũng bởi vậy, con đường tiến đến chức vị tổng thống của Nguyễn Tấn Dũng đang và sẽ được hứa hẹn hội ngộ với những vật cản thật sự đáng gờm. Bị coi là vị thủ tướng tai tiếng và tham nhũng nhất trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam, bản thân ông cũng đang tiến đến lằn ranh quyết định giữa tồn tại và bị triệt tiêu.
Dù còn khá sớm để khẳng định, nhưng chính trường Việt Nam đang manh nha một không khí “hồi tố” nào đó. Liệu trong tương lai không quá xa, bầu không khí ấy có thể hướng đạo một sự kiện lịch sử: Vụ án Nguyễn Tấn Dũng?

Ngọn cước song phi Trương Tấn Sang

..............
Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành chỉnh đảng một cách khôn khéo. Ông ta kéo Trương Tấn Sang vào cùng phía để đập Dũng. Mà Nguyễn Tấn Dũng thì phân dính đầy mình từ Vinashin tới Vinalines. 

Chỉnh đảng đang quay theo tiến trình riêng của nó. 

Nguyễn Tấn Dũng đã dao động và bắt buộc phải liếc tình sang phe Trọng: Nhận ái nữ của Tô Huy Rứa, cánh tay phải của Trọng vào một Tổng công ty nhà nước Vinaconex, trong lúc Tô Linh Hương vừa ra trường có 24 tuổi đời. 

Nhận ra mối nguy của liên minh Dũng-Trọng, Trương Tấn Sang quyết định dùng miếng tuyệt chiêu, chỉ dùng trong tình huống sống, chết: cú cước song phi. Đây là chiêu chân mạnh sẽ đá kẻ mạnh, chân yếu sẽ đá kẻ yếu hơn. Đặc điểm của chiêu này là phải nhanh, mạnh và trúng huyệt tử của các đối phương. Nếu không đánh cho những kẻ địch kia gục xuống, thì khả năng phản công của chúng sẽ phục hồi trở lại. 

Tình thế sẽ trở nên không có lợi cho người ra chiêu. 

Chân phải mạnh, Trương Tấn Sang phi vào mặt Nguyễn Phú Trọng. 

Có lý. 

Nguyễn Phú Trọng là cản trở lớn nhất việc thông qua Luật Biển tại Quốc hội VN. Tổng Trọng cũng là phát ngôn cho quyền lợi TQ tại Quốc hội VN. Đầu tiên phải đánh gục Trọng. Giải quyết được Trọng, thì giải quyết Thủ tướng tham nhũng, chỉ cần dùng chân trái mà thôi. 

Ngày 24/5 trên không gian mạng, lan truyền bài viết "Trò chuyện với tướng Đặng Quốc Bảo và cựu TBT Lê Khả Phiêu" với giới thiệu của Nguyễn Thanh Giang, một nhà dân chủ nổi tiếng từ lâu. 

Lời giới thiệu viết: "Tuần qua ở Hà Nội có tán phát một bản viết tay ký tên QHL. Theo điều tra, đây chính là chữ của đại tá Quách Hải Lượng. Dưới đây là hai bản tường thuật. Bản thứ nhất tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL với tướng Đặng Quốc Bảo. Bản thứ hai tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL và VCF với cựu TBT Lê Khả Phiêu..."


Đây chính là tuyệt chiêu của ngọn cước song phi: đá cả 2 đối thủ. 

Dùng lời Lê Khả Phiêu "không để Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban chống tham nhũng" là ngọn cước đá vung cái bùa hộ mệnh của Dũng. Từ đây, các vụ tham ô của Dũng có thể sẽ lần lượt bị phanh phui ra. 

Đối với Nguyễn Phú Trọng thì câu sau là ngọn cước đá vào huyệt tử của hắn ta: "Lợi dụng cương vị, hắn tìm cơ hội làm ăn, nếu được, hắn sẽ ngồi ghế TBT vĩnh cửu, chứ không phải nửa hay một nhiệm kỳ, đã hình thành sự liên kết PT-TQ." 

Để một đại tướng nói chuyên với một đại tá về Trọng, hàm ý đã rất rõ: Quân đội từ trên xuống dưới đã không ủng hộ Trọng nữa rồi. Chúng tôi đã có bằng chứng thép về cấu kết của Trọng và Trung Quốc. Cái khuyết điểm chết người, sẽ làm Trọng tiêu tan uy tín chính trị lúc này là "đã hình thành sự liên kết PT-TQ." 

Nguyễn Phú Trọng đã hiểu: Những người đứng sau bài viết này sẽ làm thật. Trong tay họ có bằng chứng thật. Đây là đe dọa có uy tín, được đảm bảo bởi lời nói của 2 quân nhân cao cấp. 

Nguyễn Phú Trọng đành xuống nước, không gì bằng bảo vệ sinh mạng chính trị của mình. 

Ông ta đồng ý để Quốc hội VN thông qua Luật Biển VN. 

Như vậy Luật Biển VN được thông qua trong phiên họp bế mạc của Quốc hội VN với bộ mặt tươi cười của 3 nhân vật quan trọng nhất võ đài chính trị VN: Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang. 

Việt Nam: “Cải cách hay là chết”

Câu hỏi: Tại đại hội đảng gần đây, các đảng viên đã loan báo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam nên “cải cách hay là chết”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm gì để cố gắng thực hiện khẩu hiệu mới này, họ đã làm được nhiều điều cho tự do hay dân chủ hóa hay chưa?
 Đáp: “Cải cách hay là chết” là một khẩu hiệu lần đầu tiên được nghe trong thập niên 1970 khi hệ thống nhà nước theo kiểu Liên Xô của Việt Nam lên kế hoạch phân phối hàng hóa và dịch vụ cho những người nông dân và công nhân thành thị, nhưng đã bị thất bại nặng nề. “Cải cách” ở Việt Nam hiện có nghĩa là dân chủ tự do hoặc thậm chí có những bước thăm dò theo hướng dân chủ hóa. Có nghĩa là điều chỉnh theo hướng kinh tế XHCN và hệ thống chính trị một đảng để giữ chế độ hiện hành nắm quyền. Các đại biểu Đảng chủ yếu tập trung vào việc làm thế nào chấm dứt nạn tham nhũng tràn lan hiện đang phổ biến rộng rãi, đã được xác định như là mối đe dọa chính đến tính hợp pháp về chính trị của đảng. Và họ cũng tập trung vào khu vực nhà nước, khu vực có được đặc quyền nhờ vay những món nợ ưu đãi và giá đất tăng cao. Cải cách doanh nghiệp nhà nước bị đình trệ, và các tập đoàn lớn thuộc sở hữu nhà nước, chẳng hạn như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Quốc gia, Vinashin, Tổng Công ty Hàng hải Quốc gia, Vinalines, đang trong cảnh nợ nần tồi tệ qua việc đa dạng các hoạt động, và đầy dẫy tham nhũng. “Cải cách hay là chết” trong bối cảnh hiện nay có nghĩa là, đưa chuyện nội bộ của Việt Nam vào trật tự, đặc biệt là nền kinh tế, để Việt Nam có thể cạnh tranh sinh lợi trên thị trường toàn cầu.


Câu hỏi: Trung tâm quyền lực chính ở Việt Nam là gì? Các đảng viên cấp tỉnh, quân đội hay chính phủ nắm giữ? Quyền lực ở đất nước này được phân bổ như thế nào? Nó ảnh hưởng đến chính trường như thế nào?
 Đáp: Trung tâm quyền lực của Việt Nam được trao cho khối đại diện Trung ương Đảng và các thành phần này (tôi đặt tên cho họ) đã được thống nhất đại diện từ năm 1982. Có 4 trung tâm quyền lực: bộ máy đảng gồm Ban Bí thư và các ủy viên Trung ương Đảng; bộ máy chính phủ được chia giữa Chính phủ (Nội các) và Quốc hội, các lực lượng vũ trang và chính quyền tỉnh.
Có sự căng thẳng giữa việc sử dụng quyền lực cấp trung ương (cấp quốc gia – Hà Nội) và cấp địa phương (năm thành phố độc lập và các tỉnh). Các lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương phải đối phó với “các vương quốc độc lập” ở cấp địa phương. Điều này có nghĩa là việc áp dụng luật quốc gia đôi khi bị tránh né.
Một trong những ví dụ rõ nhất về căng thẳng sôi sục liên quan đến cam kết của lãnh đạo chính phủ Việt Nam với Hoa Kỳ là tôn trọng tự do tôn giáo, gồm cả việc ngưng bắt buộc từ bỏ tôn giáo. Bất chấp luật pháp quốc gia và các nghị định, các quan chức địa phương vẫn có thể tìm cớ để đàn áp các phong trào tôn giáo độc lập, như phong trào Tin lành ở Tây Nguyên và phong trào Thiên Chúa giáo của dân tộc thiểu số Hmong ở các tỉnh Tây Bắc.
Câu hỏi: Chủ tịch nước và Thủ tướng, ai là người cải cách nhiều hơn? Và điều này ảnh hưởng đến đất nước như thế nào?
Đáp: Cả chủ tịch nước và Thủ tướng là lãnh đạo đảng ở miền nam và đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Họ thúc đẩy cải cách kinh tế, cho phép doanh nghiệp tư nhân phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài. Sự khác biệt giữa họ là những cuộc xung đột cá nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã phá vỡ khuôn mẫu của sự lãnh đạo tập thể và nổi lên gần như là một nhà lãnh đạo nổi tiếng. Ông ấy nổi tiếng trên các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước.
Ông Dũng đang trong nhiệm kỳ thứ hai trên cương vị thủ tướng. Ông Trương Tấn Sang tương đối mới với chức chủ tịch nước, mới được bổ nhiệm hồi năm 2011. Trước đó, ông là người đứng đầu Ban Bí thư Đảng. Ông Sang và một số đồng minh của ông đã dẫn đầu chống lại Thủ tướng Chính phủ trong nhiệm kỳ đầu [ông Dũng làm thủ tướng], khi chính sách kinh tế của ông ấy dẫn tới lạm phát rất cao. Triển vọng tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1997-1998. Tôi không chắc chắn “cải cách” hoàn toàn nắm bắt các động lực chính trị hiện tại. Ông Sang và nhóm người của ông quan ngại rằng, nếu các chính sách kinh tế không thay đổi, sẽ có bất ổn xã hội. Nên Thủ tướng Chính phủ bị Bộ Chính trị kiềm chế. Việt Nam đã thông qua một gói kích thích kinh tế chính thức và vượt qua cuộc khủng hoảng toàn cầu.
Động lực chính trị quan trọng là chủ tịch nước muốn có nhiều quyền hành hơn và được tham gia vào một số vấn đề lớn hơn. Ông ấy và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng chia sẻ mối quan tâm về việc “kiểm tra và cân bằng” thủ tướng.
Câu hỏi: Tôi đọc tin, biết rằng ban [chỉ đạo phòng chống] tham nhũng hiện do đảng lãnh đạo? Đây không phải là một dấu hiệu xấu?
Đáp: Lần đầu tiên khi Nguyễn Tấn Dũng được bầu làm thủ tướng, ông ấy thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng với chính ông ấy là người đứng đầu. Ông ấy đã nhấn tất cả các nút để tăng tốc độ điều tra của cảnh sát và các thủ tục tố tụng tư pháp chống lại những vụ bị cáo buộc tham nhũng lớn.
Thời gian trôi qua, cao su chạm với mặt đường nên sinh ra ma sát, và động lực chống tham nhũng chậm lại, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về các vụ bê bối tham nhũng khổng lồ trong 2 tập đoàn lớn của chính phủ mà ông ấy kiểm soát trực tiếp. Cuối năm ngoái, ông ấy bị buộc ra trước Quốc hội và nhận trách nhiệm về chuyện Vinashin không trả nợ đúng hạn các khoản vay nước ngoài. Năm nay, ông ấy bị áp lực phải nhận trách nhiệm về việc bổ nhiệm một quan chức đứng đầu Vinalines, đã bị bãi nhiệm trước đó.
Thủ tướng không có khả năng kiểm soát tham nhũng, dẫn đến kết quả là đảng đã loại bỏ ông ấy ra khỏi Ban Chỉ đạo [phòng chống tham nhũng] và để những người do đảng chỉ định kiểm soát. Một vấn đề trong việc trừng trị các vụ tham nhũng lớn là, nó liên quan đến các đồng minh chính trị của các nhà lãnh đạo hàng đầu.
Câu hỏi: Kể từ năm 2011, có một cuộc đàn áp những người sử dụng internet và các nhà hoạt động, chính phủ đang có kế hoạch đưa các luật mới để hạn chế việc sử dụng internet. Vấn đề này ở Việt Nam nghiêm trọng như thế nào?
Đáp: Từ quan điểm của các cơ quan an ninh và các nhà bảo thủ trong đảng, việc sử dụng Internet của các blogger và các mạng xã hội để nêu các vấn đề chính trị và chỉ trích chính phủ, là mối đe dọa lớn đối với khả năng kiểm soát thông tin và sự phổ biến thông tin. Internet cho phép sự xuất hiện mạng lưới liên minh ủng hộ dân chủ của đất nước, được biết đến như khối 8406, lấy tên từ ngày thành lập khối này là ngày 8 tháng 4 năm 2006. Các nhà hoạt động chính [của khối 8406] đã bị bắt và bị cầm tù.
Các blogger đã trở nên tích cực trong một phong trào xã hội lớn, phản đối khai thác boxit ở Tây Nguyên, một dự án được sự quan tâm nhất của thủ tướng, liên quan đến đầu tư từ Trung Quốc. Gần đây, các blogger và các nhà hoạt động xã hội đã bắt đầu thúc giục chống Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông. Điều này khơi dậy chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc. Chính phủ của đảng cảm thấy bị đe dọa vì điều này sẽ làm suy yếu chủ nghĩa dân tộc [mà đảng đã gầy dựng] như điều căn bản về tính hợp pháp cho sự cầm quyền độc đảng.
Mặc dù thực tế là Hoa Kỳ đã nhiều lần cảnh báo Việt Nam rằng, mối quan hệ song phương của họ không thể nâng lên cấp độ cao hơn trừ khi vấn đề nhân quyền được giải quyết, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp các blogger. Nói cách khác, các vấn đề được một số người bảo thủ trong đảng xem là quá nghiêm trọng để họ sẵn sàng hủy bỏ các mối quan hệ với Hoa Kỳ (và vì thế đối trọng với Trung Quốc) để đáp ứng các mối đe dọa nội bộ. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô hai năm sau đó vẫn là bài học sâu sắc mà chủ nghĩa xã hội độc đảng cảm thấy không an toàn để thay đổi.

Câu hỏi: Việt Nam đương đầu với sự suy giảm kinh tế và lạm phát tăng cao như thế nào? Ông có nghĩ rằng áp lực kinh tế có thể đẩy mọi người xuống đường tương tự như những gì thế giới Ả Rập đã chứng kiến?
Đáp: Việt Nam có các kết quả hỗn hợp. Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hợp lý, chỉ dưới 6%, và lạm phát đã giảm xuống từ tỉ lệ lạm phát cao là 23% trong năm 2008. Xuất khẩu Việt Nam sang thị trường châu Âu và Bắc Mỹ không còn phát triển ở tốc độ như trước đây. Lạm phát chủ yếu ảnh hưởng đến các khu vực thành thị và những người mới phất trong đảng cũng như các cán bộ nhà nước. Những lời than phiền gia tăng về ùn tắc giao thông liên tục, ô nhiễm, cúp điện và chi phí sinh hoạt. Nhưng không có bằng chứng thật sự nào cho thấy, những người này phụ thuộc vào chế độ sẽ xuống đường. Họ đã được hưởng lợi từ hệ thống. Theo quan điểm của họ, hệ thống này không là gì cả trừ chuyện áp bức. Hệ thống chính trị Việt Nam tạo ra quá trình chuyển đổi thế hệ có trật tự. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải nghỉ hưu ở tuổi 65 và chỉ có thể lãnh đạo nhiều nhất là hai nhiệm kỳ. Những người tuyên truyền cho chế độ ở Việt Nam bám vào tình trạng bất ổn ở nước ngoài như là một bài học cụ thể để cảnh báo công dân của họ – thay đổi quá nhiều sẽ dẫn đến hỗn loạn và bất ổn, và hủy hoại những điều kiện sống mà khó khăn lắm họ mới có được.

Câu hỏi: Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong những năm gần đây và đặc biệt đối với Mỹ, đã thay đổi nhiều như thế nào?
Đáp: Đứng trên quan điểm rộng lớn thì chính sách đối ngoại của Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Việt Nam đã từng có quan điểm nhị phân về thế giới: chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa đế quốc. Đó là một cuộc đấu tranh sống còn, theo khẩu hiệu “Ai sẽ chiến thắng”. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Việt Nam thông qua chính sách đa dạng hóa, đa phương chính sách đối ngoại của mình để trở thành một đối tác đáng tin cậy cho tất cả các nước. Nếu câu này nghe có vẻ nhàm chán, nhìn vào kết quả: năm 1991 Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ sau một thập kỷ đối đầu trong cuộc chiến ở Cambodia; Nhật Bản khôi phục hỗ trợ phát triển nước ngoài [cho Việt Nam], và năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ và Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việt Nam là nước ở châu Á đã được chọn làm ứng viên vào chức ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc và được Đại Hội đồng LHQ bầu với số phiếu áp đảo.
Về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: kể từ khi bình thường hóa quan hệ, hai nước đã ký Hiệp định Thương mại Song phương và hiện đang đàm phán để làm thành viên Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của Việt Nam. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần của Mỹ gần đây nhất đã xác định Việt Nam là một đối tác chiến lược tiềm năng. Năm 2010, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến thăm Hà Nội, bà đã kêu gọi nâng mối quan hệ song phương lên cấp độ mới và đề nghị mối quan hệ đối tác chiến lược. Các cuộc đàm phán hiện đang bị sa lầy vì các vấn đề nhân quyền.
Quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt đã phát triển chậm từ năm 2003 khi [hai bên] đồng ý trao đổi các cuộc thăm viếng qua lại giữa Bộ trưởng Quốc phòng [hai nước] ba năm một lần. Bộ trưởng Panetta vừa đến thăm Việt Nam. Từ năm 2003, Hải quân Mỹ được phép cập cảng Việt Nam một lần trong năm. Năm 2010, Mỹ – Việt đã tiến hành các hoạt động hải quân hàng năm đầu tiên (không phải các cuộc tập trận liên quan đến kỹ năng chiến đấu). Năm ngoái, Việt Nam và Hoa Kỳ đã nâng cấp đối thoại chiến lược giữa Bộ Quốc phòng hai nước lên cấp thứ trưởng và đồng ý ký một Bản Ghi nhớ về hợp tác quốc phòng.
Trong chuyến thăm của Bộ trưởng [Quốc phòng Mỹ] Panetta, ông ấy đã được phép đến thăm Vịnh Cam Ranh, căn cứ của Mỹ trước đây. Nhiều năm qua, Việt Nam đã lặng lẽ tiến hành sửa chữa 5 tàu thuộc Bộ Tư lệnh Hải vận Hoa Kỳ (US MSC). Những con tàu này không phải tàu chiến, mà là tàu hậu cần với thủy thủ đoàn là thành phần dân sự. Ba lần sửa chữa gần đây nhất đã được thực hiện ở Vịnh Cam Ranh. Khi ông Panetta gặp người đồng nhiệm phía Việt Nam ở Hà Nội, Việt Nam thông báo rằng họ mở cửa ba khu vực để phục hồi việc tìm kiếm người Mỹ mất tích khi làm nhiệm vụ (MIA), đã bị hạn chế trước đây.
Một trong những điểm trở ngại trong hợp tác quốc phòng là luật pháp Hoa Kỳ ngăn cấm việc bán thiết bị quân sự và vũ khí sát thương cho Việt Nam và cũng hạn chế các quy định liên quan đến nhiều dịch vụ quân sự với Việt Nam. Việt Nam có thể mua một số thiết bị quân sự không sát thương và dịch vụ quân sự trong từng trường hợp cụ thể.

Nguồn: Thayer Consultancy

7 thg 7, 2012

Cần lật mặt những kẻ cố tình bưng bít thông tin nhằm mục đích có lợi cho Trung Quốc

Thông thường tôi rất khó chịu với những cái tít dài, mà chỉ thích đặt tít ngắn, vài ba chữ càng tốt, dù viết bài đăng báo chí chính thống hay blog cá nhân đều vậy. Nhưng lần này phá lệ, phá bỏ lối riêng bởi cái tít phải dài như ở trên kia thì mới trút ngay được sự bực bội, khinh bỉ. Và có nhẽ mang cả cảm giác nếu chậm hơn một tí, một tí thôi, thì sẽ không kịp nói. Phải cho tiêu đề gánh ngay nội dung mới hả.

Nhưng chuyện gì, chuyện ra sao, đầu cua tai nheo ra sao, bình tĩnh kể nghe xem nào. Uống hớp nước đi, kể đi, đừng nóng giận quá dễ hại tâm can. Ừ thì nói.

Chả là cái vụ 4 chiếc tàu hải giám Trung Quốc vào vùng biển Trường Sa (lưu ý là Trường Sa chứ không phải Hoàng Sa nhé) thuộc chủ quyền nước ta quậy phá. Ta phái tàu cảnh sát biển ra, hai bên đấu với nhau thế nào chưa rõ, nhưng sau đó thằng Tàu công bố một cái video clip rất mất dạy. Chẳng đặng đừng, cơ quan ngôn luận chính thức của Việt Nam, tức TTXVN, đã lên tiếng cãi lại. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Còn dư luận thì bàn tán om sòm.

Vụ này, tôi thấy có điều cần trao đổi, nhất là vấn đề chủ động thông tin, trách nhiệm của người giữ vai trò cho phép mở miệng.

Trước hết cần đặt câu hỏi “tại sao khi nhà cầm quyền Trung Quốc tiến thêm một bước hung hăng bằng cách điều cùng lúc 4 tàu hải giám ra vùng biển Trường Sa của Việt Nam “làm nhiệm vụ”, tuyên bố công khai trên Tân hoa xã, trên Nhân dân nhật báo, Hoàn cầu thời báo, trên đủ loại phương tiện truyền thông, qua cả người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lưu Vi Dân thì về phía Việt Nam, ngoài phản ứng của ông Lương Thanh Nghị, gần như báo chí, truyền thông không có phản ứng gì tức thì?”. Có vẻ như hệ thống báo chí, thông tin nước nhà nhất nhất chờ chỉ đạo từ trên, nên rất thụ động. Người dân biết được hành động khiêu khích trắng trợn ấy của Trung Quốc chủ yếu qua báo đài nước ngoài và các mạng xã hội. Vậy thì đừng trách họ nếu thông tin bị xuyên tạc, lợi dụng.

Vùng biển quần đảo Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam, nếu nhà nước, quân đội Việt Nam có điều tàu cảnh sát biển hoặc tàu hải quân ra đó làm nhiệm vụ cũng là chuyện bình thường và hợp đạo lý, luật pháp, chả có gì phải giấu giếm. Sao người dân chỉ biết sự hiện diện của tàu ta sau khi video clip đểu được Trung Quốc công bố? Sự chậm trễ cố ý như thế chả khác gì nhận sai về mình, lạy ông tôi ở bụi này, làm ngay cả nhân dân trong nước lẫn dư luận, bạn bè quốc tế hồ nghi hành động chính đáng của chúng ta.

Vụ “đụng độ” giữa tàu cảnh sát biển Việt Nam với 4 tàu hải giám Trung Quốc, hầu như người dân không được biết cụ thể. Tàu VN có làm điều gì vi phạm đâu mà phải giấu? Cảnh sát biển bảo vệ chủ quyền ngay chính vùng biển của nước mình mà cũng phải bưng bít ư? Chả nhẽ đó là biển Trung Quốc? Và xấu hổ nhất là đợi cho đến khi Trung Quốc tung ra video clip thì những người phụ trách truyền thông của ta mới phản ứng lại một cách rất yếu ớt, chậm chạp, theo kiểu nói cho có, thậm chí hơi khôi hài: "chúng tôi bác bỏ thông tin tàu hải giám Trung Quốc “chặn đuổi” tàu công vụ của Việt Nam tại khu vực quần đảo Trường Sa". Từ vị thế chính nghĩa, chủ động, với kiểu cách thông tin như thế, VN đã tự đặt mình vào thế bị động, bị chê trách, lên án; nhường quyền chủ động, thế thượng phong cho Trung Quốc. Nếu do thói làm việc vô trách nhiệm thì sẽ không nghiêm trọng lắm, nhưng nếu ai đó cố ý trong việc này nhằm mục đích có lợi cho Trung Quốc, chúng ta cần phải lật mặt, làm rõ, lên án. Là một công dân, tôi ít nhiều vẫn còn tin rằng đảng cầm quyền, nhà nước ta có sách lược mềm dẻo, khéo léo để không đẩy quan hệ giữa hai nước đến thế đối đầu không có lợi; đang chờ thời cơ, điều kiện thuận lợi để giành lại chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, tùy từng trường hợp mà cân nhắc, chứ cứ để kẻ nào đó lộng hành, mất lòng dân như trường hợp trên thì quả là rất nguy hiểm.

Hãy học lại bài học cách đây 48 năm. Khi Mỹ liên tiếp ngày này ngày khác cho tàu khu trục Maddox vào vịnh Bắc bộ, sát bờ biển ta khiêu khích, binh chủng hải quân (khi đó chưa phải quân chủng) ngày 2.8.1964 đã điều ngay 3 tàu phóng lôi 333, 336, 339 ra đánh đuổi, mặc dù chịu tổn thất khá nặng nhưng đã bắn bị thương Maddox, đuổi được nó ra khỏi vùng biển miền Bắc. Ngay tối 2.8 và ngày 3.8, đài Tiếng nói Việt Nam và báo Nhân Dân đã tường thuật chi tiết, công bố thông tin, giúp nhân dân vừa nắm được tức thời mưu đồ kẻ thù, vừa cảm phục tinh thần chiến đấu hy sinh của bộ đội, khơi dậy tinh thần cách mạng, sẵn sàng chiến đấu của hàng triệu người. Đó chính là sức mạnh mềm của cách mạng mà những người được giao quyền công bố thông tin đã thấu hiểu và thực hiện xuất sắc. Họ nắm vững nguyên tắc mà bác Hồ đã chỉ đạo “luôn phải công khai và chủ động”, phải minh bạch các thông tin có lợi cho cách mạng, cho nhân dân. Có như vậy mới tạo được sự đồng lòng, đoàn kết nhất trí của toàn đảng toàn dân trong sự nghiệp thiêng liêng bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nay thì hậu sinh của họ làm hoàn toàn ngược lại. Buồn thay.

Khi tôi viết những dòng này, các cơ quan ngôn luận Trung Quốc cho biết tàu hải giám của chúng vẫn đang thực thi nhiệm vụ trên vùng biển quần đảo Nam Sa (Trường Sa của VN). Có lẽ nhiều người đã hình dung được cái kết cục lăng loàn như thế, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của những kẻ cố tình bưng bít thông tin nhằm có lợi cho “bạn vàng”.

*Ghi thêm: Tôi viết bài này xong từ tối 5.7 nhưng mãi đến khuya 6.7 mới đưa lên “cờ lốc” cá nhân được bởi các nhà cung cấp dịch vụ, chả biết theo chỉ đạo của ai, ngăn chặn quyết liệt, tôi không thể vào “nhà” mình, dù mình “có đầy đủ bằng chứng và cơ sở pháp lý” về chủ quyền. Và sẽ có nhà yêu nước chân chính nào đó vặn tôi rằng cứ leo lẻo nói chặn này chặn nọ, sao vẫn đưa bài lên được đấy thôi. Xin thưa, vẫn đưa lên được, nhưng phải nhờ người am hiểu tường lửa tường nước chỉ cho cách vượt đó, chứ không thì còn dài cổ. Lẩn thẩn nghĩ, chính những “chặn tặc” này cũng cùng giuộc với bọn tay sai Trung Quốc mà tôi đã đề cập ở trên thôi.
 

6.7.2012
Nguồn : Nguyễn Thông