Chào mừng bạn đến với blog ĐỌC & SUY NGẪM .

14 thg 9, 2011

Không thể nói chuyện Trung Quốc trên quê hương mình

Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa, và gây ra cái chết của 64 liệt sĩ Việt Nam năm 1988 trong một trận chiến không cân sức ở Trường Sa. Và một thời gian dài, chúng ta không được nhắc đến sự kiện đó qua cần cổ một cách đường hoàng chính đáng. Cảm giác nói đến chuyện đó như lén lút.
Không khí quê hương là của ta nhưng sao ta lại không nói được ra, 
cứ ứ nghẹn ở cần cổ?



           
Và khi những người trẻ tổ chức vòng tròn bất tử ở Đà Nẵng, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ có mời Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa đến dự. Theo thông tin, thì vị Chủ tịch này đã nhận lời mời, nhưng sau đó không đến, và không có giải thích. Hành vi không đến dự một cuộc hẹn quan trọng khi đã nhận giấy mời ít nhất về mặt hành chính, có đầy đủ ban bệ văn thư, Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa cần gọi điện nói rõ lý do việc này với ban tổ chức.
           
UBND huyện đảo Hoàng Sa lập ra không có nghĩa về mặt hành chính vận hành cho có, mà chưa thấy từ ngày thành lập đến nay, đã mấy lần UBND huyện đảo thăm hỏi thân nhân những chiến sĩ hy sinh bảo vệ Hoàng Sa, hoặc nhưng cựu quân nhân. Trang web UBND TP. Đà Nẵng giới thiệu huyện đảo Hoàng Sa như sau: “Diện tích: 305 km2, chiếm 24,29% diện tích thành phố Đà Nẵng. Huyện đảo Hoàng Sa được thành lập từ tháng 01/1997, là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý (khoảng 315 km), bao gồm các đảo: đảo Hoàng Sa, đảo Đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, Đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, Cồn Bông Bay, Cồn Quan Sát, Cồn Cát Tây, Đá Chim Yến, Đá Tháp.Ngày 21/4/2009, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Trần Văn Minh ký quyết định  bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ làm chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa trong nhiệm kỳ 2009-2014.(23/09/2009)”. Trận hải chiến 1988, có diễn ra trên đảo Lin Côn, vậy tại sao Chủ tịch huyện đảo không đến dự buổi tưởng niệm vừa tổ chức ở Đà Nẵng? Hay là do bận bịu đi thăm các đảo?. Ở ngay trên chính mảnh đất mình hít thở dưỡng khí một cách tự do, nhưng không được nói đến một cách minh bạch các điều về Hoàng Sa, Trường Sa càng thấy nỗi đau ứ nghẹn trên cần cổ ngày càng tích tụ.
           
Người Trung Quốc có mặt ở hết thảy ba miền Bắc, Trung, Nam. Họ làm việc đủ ngành nghề, từ đào mỏ, làm rừng, lao động hàng nghìn người trên các công trình trọng điểm quốc gia. Họ dường như có mặt từ miền núi đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn, từ trung du đến cả hải đảo. Thương nhân của họ cũng có mặt khắp ba miền để thuê đất trồng khoai, thu gom thuỷ sản, tài nguyên khác…Báo chí phát hiện và viết, nhưng viết được một số ngày sau đó im bặt. Ức nghẹn ở cần cổ lại trào dâng. Ở chính quê hương mình mà nói chuyện Trung Quốc hiện diện ở đâu, làm gì không được nói một cách tự do tự tại thì còn nỗi đau nào hơn thế.
          
Ở chính trên quê hương của mình, không nói được yêu nước một cách công khai, phải lén lút nói đâu đó, cái cần cổ lại cứ nghẹn đắng, trường uất hận phải dồn vào một chỗ không thể buông ra lời, cứ như ở trong không gian khó thở, dưỡng khí bị lấy đi cũng không được nói.

Nguon : Cu Làng Cát

12 thg 9, 2011

VIẾT TRONG NGÀY NGHỈ



Xét cho cùng trên đời này chỉ có hai loại người: tốt và xấu, hiền lành và gian ác, thông minh và dại dột. về thể lực thì có khỏe và yếu, lành lặn và què quặt. Xã hội cũng chỉ hai loại:  văn minh và lạc hậu. Văn minh thì con người được tự do phát triển, xã hội lành manh. Lạc hậu thì con người bị thiệt thòi méo mó, tụt hậu.
Thế mà chúng ta làm cho nó phức tạp lên khi lạm dụng hai từ Cách mạng.


Một xã hội dang yên lành, ba thằng đội cải cách về, chỉ sau vài tuần hội họp là thôn xóm bất an, nhốn nháo nảy nòi ra cố nông, bần nông, trung nông, phú nông , địa chủ, cường hào…Rôi nhìn nhau hầm hè thành thù địch. Cố nông là lớp người nghèo nhất lên làm chủ và đấu tố thiên hạ.
Dường như đã có cuộc “ cách mạng văn hóa vô sản” ở nước ta sớm hơn Trung quốc. Đó là cải cách ruộng đất với khẩu hiệu : người cày có ruộng" tưng bừng và đầy mờ ám vào năm 1956.
Mười năm sau,Trung quốc năm 1966 mới xảy ra với lớp Hồng vệ binh vừa ráo máu đầu. Theo chỉ đạo của Mao, lũ chúng không cần biết trên đưới, chỉ làm theo lệnh với khẩuhiệu " tiêu diệt bè lũ tư sản trong Đảng"rất hay, nhưng thực ra là để thanh trừng những người trái quan điểm với Mao..
Đám robot đáng sợ, sản phẩm Mao Trạch Đông đã từng làm bại hoại xã hội Trung Hoa một thời gian dài. Còn ở ta, tham mưu Tàu dựng lên đội cái cách, biến tầng lớp nghèo khổ là bần cố nông thành những ro bot hung ác đầy quyền lực. Có nơi đội cái cách còn giải tán cả chi bộ Đảng. Cán bộ Trung ương mà về quê  khi bố đẻ đang bị qui địa chủ cũng có thể bị bắt và xử tại chỗ.

Những con robot do Đội cải cách nặn ra, chỉ mặt bố đẻ gọi là thằng, rồi vợ tố chồng hãm hiếp! Đội cải cách khuyến khích điêu toa, cho họ có thứ đặc quyền đặc lợi, làm những việc tày trời mà không biết đó là tội ác. Bây giờ còn nhớ lại thời ấy có câu nói bất hủ câu: thỏa mãn Bần cố nông chưa!. Tức là cứ rủa xả tố khổ cho đủ, cho đẫy vào, có điêu toa cũng chẳng sao. Lúc ấy tội liên quan với địa chủ là cũng không nhỏ. Một chính sách chia rẽ đén tuyệt đối xã hội, làm man rợ hóa văn hóa sống cộng đồng
Hai ví dụ trên đều xuất phát từ lợi dụng sự ngây thơ và ngu dốt để thực hiện những ý đồ xấu xa. Kẻ bề trên phải chịu trách nhiệm ấy chứ không phải những con robot trẻ hoặc già.

Địch là cái gì nhỉ. Địch là đối thủ, nhưng cũng rất mơ hồ, nhất là khi không chỉ rõ mặt, không bắt tận tay. Nó giống như con ma, ông ba bị chín quai mà người lớn bịa ra dùng làm công cụ dọa tré con.
Bản chất hai từ kẻ địch chính là gây cho người ta tâm lí đề phòng nhau, nghi kị  nhau, gây cho người ta sợ sệt khi nghe thấy người trái ý mình.  Cách này cũng là thứ khủng bố gây tâm lí nghi hoặc, bất ổn cho mỗi cá nhân, khiến người ta co mình lại. Dù đây là phuông cách tuyên truyền rất cũ, nhưng vẫn còn tác dụng, nhất là khi giới cầm quyền đã định hướng quan phương cả một thời gian khá dài và bây giờ vẫn dùng nó như một phương tiện hữu hiệu.



Những từ như đòng chí, đồng bào, lậ trường, tư tưởng, thoái hóa biến chất, cải tạo, thành phần giai cấp (bần nông, cố nông địa chủ cường hào ác bá), địch và ta, lập trường kiên định, liên quan, tàn dư giai cấp phong kiến…từ từ xuất hiện trong kháng chiến và trong cải cách ruộng đất. Nó phân hóa, chia rẽ xã hội , nó còn phân hóa ngay trong một gia đình, thù nghịch ngay trong gia đình mình, chỉ vì người này thấy người kia có cách nghĩ khác.
Năm 1972, đọc tạp chí nghiên cứu giáo dục, thấy Phiđen Caxtoro đã rất đúng khi ông tổ chức lại hệ thống giáo dục. Ai cũng được thi vào đại học, miến là đủ năng lực. Còn phản động hay không đã có bên an ninh lo. Không có thứ chủ nghĩa lí lịch kinh khủng như ở ta, người tổ chức hành chính cũng soát lí lịch như công an! Và nhất là soi đến ba đời.
Rất nhiều điều cần phải rà soát lại, nghiên cứu và minh bạch sai đúng thì cuộc sống xã hội mới có thể trở lại cân bằng. Còn không, nhiều kẻ ác đến chết không thấy mình sai, nhiều người không sai mà bị quy chụp cho đến chết mà khong được minh oan. Nhìn lại cái sai vô cùng lớn trong cải cách ruộng đất hủy hoại cả một nền tảng văn hóa xã hội, hoặc vụ triệt hạ Nhân văn giai phẩm phi đạo lí bằng hai chữ phản động ỡm ờ  đến bây giờ không có kết luận là sai đúng cho minh bạch thì vẫn là những  món nợ đời của chính quyền chưa trả được cho đất nước.
 Nếu có rút kinh nghiêm, nhìn thấu suốt cái sai đúng thì không có những cái bùng nhùng hôm nay , và những món ăn chính trị của Tàu không thể phủ mãi bóng đen lên nền chính trị Việt Nam. Cái đẻ chúng ta yếu kém chính là không dám nhìn vào sự thật, đẻ những sai lầm lết mãi trên con đường đi của đất nước.
Nếu có một ban lí luận trung ương thì việc đầu tiên của ban ấy là phải nhận diện rõ hiện tương xã hội này trước khi nhả ra những triết lí trên trời. Phải đi từ mặt đất.



Nhớ xưa có lời dạy của tiền nhân:
Cái gương tày liếp không soi
Soi cong nước đái cho lòi mắt ra.
Là để cảnh cáo kẻ thiển cận. Thế giới người ta đi tận đâu đâu rồi, đem lại hạnh phúc cho dân tộc, còn ta cứ soi cái cong nước đái của anh bạn láng giềng  ti tiện để cho hết sai này chồng lên sai kia. Lỗi đó là ở ta, đừng đổ cho ai.



Hồi mài ghế đít trên ghế trường phổ thông, tôi cứ băn khoăn thời Lê Lợi mười năm thắng quân Minh lẫy lừng, nhưng khi giành độc lập  thì khai quốc công thần như Nguyễn Trãi  lại bị tru di tam tộc với cái án trại vải mơ hồ. Thời Nguyễn Quang Trung, một ông vua khá cấp tiến, thông minh và giỏi giang nhưng khi  bình định xong chúa Trịnh, đuổi chúa nguyễn ra biên thùy, thì những đại tướng như Lê Văn Xảo, Vũ văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh… đều lần lượt bị  bêu đầu dưới ngọn đao của chính cái triều đại mình góp phần khai lập ra. Những cái chết  dưới cái tội phản loạn bị qui cho rất đáng ngờ .
Tôi lúc đó còn quá ngây thơ chưa biết hỏi thày dạy Sử vì sao lại thế. Thời nào, triêu đại nào cũng có những khai quốc công thần bị loại bỏ sau khi hoàn thành sư nghiệp.
Sau này lại biết  câu: hết cáo thỏ thì chó săn bị giết. Chẳng nhẽ  những tài năng quân sự lớn ấy lại chỉ ngang cấp chó. Họ không có từ đồng chí nhưng cũng là đồng chí như thời cách mạng, cùng một lòng  đánh đuổi quân xâm lược.

Chẳng  có ai để hỏi mà cứ đeo nó trong đầu thì rồi cũng đén lúc phải tự giải bài toán đó thôi
 Rồi bất chợt nghĩ ra rằng, loài người khi thoát khỏi cảnh ăn lông ở lỗ, kẻ mạnh thâu tóm đồng loại của mình phục vụ cho mình hình thành dần tầng lớp chủ nô.  Sau đó manh nha sang một xã hội tiến bộ hơn hình thành bộ tộc. Mỗi anh cát cứ một phương. Rồi anh mạnh thôn tính anh yếu. Thế kỉ thứ 9, Đinh Bộ Lĩnh dẹp được 12 sứ quân lập nên nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên.
Cấu trúc riều đại phong kiến Việt Nam cũng giống người Trung Hoa, vua đứng đầu nước và cha truyền con nối cho đến lúc thối nát bị lật đổ thì một triều đại, một dòng họ mới thay thế trị vì. Mỗi lần như thế, dân đen bị lôi vào cuộc tranh giành, chết không kể xiết. Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết là thế. Lịch sử Đinh- Lê- Lí-Trần-Lê-Nguyễn và đến thời cộng sản ngày nay đều theo qui luật đó cả.


Tương đồng với Việt Nam thì Bắc triều cũng đầy nội loạn. Thử điểm từ thời Tam Quốc (ngụy-Thục-Ngô) , Lưỡng Tấn và Nam bắc triều rồi đến Hán-Đường-Tống-Nguyên-Minh-Thanh và nước công hòa nhân dân Trung Hoa, nhà nước mệnh danh cộng sản ra đời. Mỗi triều đại một dòng họ trị vì từ vài chục đến vài trăm năm rồi đều  theo nhau sụp đổ và bị thay thế vì sự mục ruỗng ngay trong lòng nó. 
Trung Hoa cũng vậy, hết cáo thỏ thì chó săn bị giết, y chang thứ văn hóa chính trị Việt Nam qua các triều đại phong kiến. Kẻ bị hại đều đeo cái tội mưu đồ phản loạn, bên Tàu gọi là tạo phản.
Chế độ cộng sản là nhà nước một Đảng dìu dắt dân tộc. Nền cộng hòa thay chế độ phong kiến một dòng họ bằng một thiết chế khác, vẻ như rất dân chủ. Nhưng trên phương diện nào đó thì bản chất vẫn lấp ló lối cai trị của Phong kiến, chưa thoát ra khỏi chế độ phong kiến.
 Ông Nguyễn Văn An , cựu Chủ tịch Quốc hội nước ta đã nói ra một sự thật, gọi chế độ một Đảng là “vua tập thể” là chính xác. Vua nên ban xuống lời vàng ý ngọc (là họ nghĩ thế) chỉ có đúng, cấm cãi. Là vua nên không bao giờ quen với sự phản biện, tranh luận. Lời vua ý chúa ban ra chỉ quan phương một chiều. Nhưng con người là một chủ thể có tư duy, nên không được phản biện công khai thì nó ẩn vào đời sống dân gian bằng ca dao hò vè, dân ca tục ngữ. Chính vì thế mà giói cầm quyền Phong kiến phải thốt lên rằng” Nôm na là cha mách qué” để chỉ những phản ứng xã hội với cách cai trị mất lòng dân của chính quyền.

Nhớ triều Tự Đức có câu ca dao giễu một thông cáo (chiếu chỉ) chỉ về sinh hoạt ca nhà vua:






Tháng tám có chiếu vua ra
 Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
 Không đi thì chợ không đông
 Đi thì phải mượn quần chồng sao đang
Có quần ra quán bán hàng
 Không quần ra đứng đầu làng trông quan.

 Quần không đáy là cái váy ạ! Mặc váy khi ngồi thì hở cái bướm ra bất tiện nên cận thần tư vấn cho vua bắt đàn bà mặc quần cho kín đáo…nhà vua đã làm theo.
Rồi còn câu này nữa, nói về gái điếm nhưng thực ra là chỉ bọn tay sai mẫn cán cho ngoại bang:
Còn Tàu, còn nhiễu Tam Giang
Tàu về Bắc quốc, mo nang che lồn!

Vâng, hết chỗ ăn theo thì tơ hơ ra. Câu ca dao trong dân gian để lại không biết từ bao giờ cảnh cáo bọn tay sai ngoại bang, chưa bao giờ mất trong đời sống dân gian.

Thời gạo phiếu cơm tem, cán bộ cứ tuyên truyền đủ thứ hay ho, trong dân gian tồn tại câu ca dao:
Con gì mắt híp bụng to
Ăn hàng Tôn Đản líu lo suốt ngày.

Hàng Tôn Đản là quầy hàng bán đồ ăn ưu tiên cho cán bộ cao cấp.
Rồi có một ngày lại nẩy ra trong dân gian:
Nhà thơ làm kinh tế
Thống chế đi đặt vòng
Bác ơi, Bác có biết không
Thạch Sanh thì ít, Lí Thông thì nhiều.

Đó là những năm tám mươi thế kỉ trước, khi nhà thơ Tố Hữu lên làm phó thủ tướng thứ nhất, còn tướng Giáp thì được phân công đi nắm về kế hoạch hóa dân số.


Phản biện luôn vạch mặt cái sai, cái phi lí, và báo động cái bất trắc cái ẩn họa tiềm tàng trong các chính sách. Đó là hình thức biểu tình phương đông đòi sự công bằng. Còn biết xếp nó vào đâu , nếu không gọi đó là biểu tình?
Cách mạng thành công, có cụm từ “dân chủ cộng hòa” ra đời nhưng để hiểu thấu nội hàm cụm từ đơn giản đó đưa nó vào cuộc sống trở thành hiện thực chắc còn lâu. Có lẽ đó là qui luật của lịch sử, tư nhận thức đi đến hiện thực luôn là một khoảng cách. Để đén tới đích phải còn qua chặng đường dài nữa và không thể thiếu sự phản biện tích cực.
Lịch sử một dân tộc thì dài mà đời một con người thì ngắn, mọi cái xấu xa dều xuất phát ở lòng tham hưởng thụ, nếu không sẽ vào lòng đất mà không biết đời là gì, nên tranh thủ vơ vào mình càng nhiều càng ít, và những tập đoàn cai trị như thế sẽ gây nên tai họa kéo  dài cho cả dân tộc.


Thực ra chế độ cai trị nào dù coi là tiến bộ nhất thì cũng đều có sự chiếm đoạt. Quyền lực càng tập trung cao thì chiếm đoạt càng lớn. Ăn cắp và tham nhũng chỉ là hạng hai trong sự chiếm đoạt. Còn những tiêu chí để tranh cử ra đứng điều hành đất nước thì bao giờ cũng đầy lừa dối mị dân. Từng nghe nói ”chính trị là con đĩ”. Nó lừa dối tất cả đẻ đạt mục đích bằng tuyên truyền vận động lừa mị, hứa hão. Nhưng thể chế ‘tam quyền phân lập” đến nay có lẽ vẫn là ngưỡng cao nhất loài người cần vươn tới. Khi tam quyền phân lập thì có sự giám sát nhau để giảm thiểu những hành vi mờ ám thao túng ăn cắp không được lộng hành. Xã hội sẽ đạt được sự công bằng tương đối. còn như thiết chế của ta chẳng hạn, Thủ tướng đứng đầu giám sát chống tham nhũng. Vậy thử hỏi nếu Thủ tướng tham nhũng thì ai giám sát.Và nếu ông tham nhũng thì răm rắp hàng loạt bên dưới làm theo. Câu hỏi đó có đặt ra cũng bình thường thôi, vì thủ tướng cũng là  người, là một công dân có vợ con gia đình và đầy các nhu cầu như mọi chứ có gì khác đâu. 
Có ai thấy một ông quan thời ta nghèo không nào, hay toàn nhà cao cửa rộng, họ hàng bu quanh chia chức từ bé đến to dẫu chẳng  tài năng. Giàu có thế, lấy đâu ra nếu không tham nhũng, không vơ vét?. Rồi quan lớn quan bé đã sinh ra thói giữ chỗ cho con, giống hệt thời phong kiến, khác hẳn thời Hồ Chí Minh lập quốc! 
Vậy gọi là dân chủ cộng hòa nhưng khi chỉ một đảng cầm quyền thì khác gì vua, Khi nó biến chất lạm quyền  sẽ kinh khủng hơn phong kiến vì lãnh đạo tập thể rất dễ chối tội. Vâng vua tập thể chia nhau mới khiếp. Và hết nhiệm kì thì đám vua mới lại lên, lại đào vét tích lũy mà không có chế tài nào để ngăn cản. Vậy thì dân làm sao ngóc đầu lên được



Hôm nay tôi nghĩ đến công cuộc giảm tô và cải cách ruộng đất, cố lí giải vè câu hỏi nặng mãi trong đầu: Tại sao lại thế?
Vâng, ruộng đất chia cho dân cày thì cứ cho là được đi, nhưng sao phải bắn giết, sao lại gây mâu thuẫn xã hội, chia rẽ cùng cực đến mức con tố cha vợ tố chồng, họ hàng anh em thành thù nghịch. Là cái trò gì đây nhỉ.
Và hôm nay, câu chuyện ồn ào trong quan hệ Việt Trung làm cho câu hỏi đó thức dậy và  tôi đã tìm thấy câu trả lời, vấn đề đã sáng ra.

Xin lui lại vài dòng kí ức
Khi giảm tô cải cách ruộng đất năm 1956 tiến hành, tôi 11 tuổi. Những câu chuyện xảy ra tôi còn nhớ đén hôm nay.
Lúc ấy buổi tối, đội thiếu nhi được cắt cử đi trông nhà cho các cốt cán đi họp,  để Đội cải cách “ bắt rễ xâu chuôi”.
Trẻ con biết gì, được tụ bạ chơi với nhau, lại do người lớn giao việc thì sướng lắm.
Được một thời gian thì bỗng tôi bị gạt ra khỏi nhóm trông nhà. Lí do đơn giản: gia đình vừa bị qui lên thành phần phú nông, là dính vào bóc lột nên không còn cùng giai cấp với người nghèo nữa.
Không được đi trông nhà ban đêm cho cốt cán đi họp, đó là điều tổn thương tinh thần  đầu tiên, cũng là lớn nhất trong đời tôi .

Năm 1943 bố tôi một mình từ Bắc Gang theo chân người  quản lí cho chủ đồn điền Bùi Huy Khuê, lên Bản  Ngoại , đại Từ , Thái nguyên nhận  7 mẫu ruộng phát canh,  nộp tô cho chủ đồn điền.
Năm 1945 cách mạng về, chủ đồn điền bỏ chạy. Từ đấy thuế má nộp cho kháng chiến, gọi là thuế nông nghiệp.
Năm 1946, bố tôi được kết nạp vào Đảng.
Văn hóa lớp 3 xóa mù trong thời bình dân học vụ 1946. Đảng viên như bố tôi thực chất là đầu sai chứ trình độ kiến thức lí luận thì chẳng có gì.
Ông được giao làm trưởng ban giao thông xã.
Làm trưởng ban giao thông có một việc khá quan trọng là trách nhiệm đưa đón cán bộ Việt Minh qua địa bàn sao cho an toàn.
Ông Giáp qua nhà tôi vài ba lần, cụ Hồ cũng qua một hai lần gì đấy. Là nghe bố tôi lào thào với bạn bè. 
Việc là đón các ông lúc sáng sớm đưa về nhà, dọn cái buồng để đoàn cán bộ nghỉ. Đến chiều tối lại dẫn đoàn ra cuối xã, lại có người đón, đưa đi tiếp.

1954, Kết thúc cuộc chiến.
Bắt đầu cải cách  ruộng đất thì bố tôi được đi theo một đội ở nơi khác cũng để làm cải cách, thì  ở nhà gia  đình bị qui lên Phú nông, thành giai cấp bóc lột. Ông bị khai trừ khỏi Đảng, đuổi về nhà.
Cũng là may mắn để ông không dính vào tội ác.
Mấy năm ông già lẽo đẽo đi theo cách mạng có khác gì bật mã ôn, thế mà say sưa bỏ  việc ở  nhà. Mấy mẫu ruộng nhận của chủ điền thì  việc cày  bừa mẹ  phải thuê người trong xóm. Đôi cải cách vội nhìn ngay ra đó là bóc lột, là đối tượng bóc lột và gắn luôn mác Phú nông luôn. Lần đầu tiên gia đình được xác định thành phần giai cấp.Trước đó như tất cả mọi người, đều chỉ là nông dân thôi.
Từ hôm ấy con cái mất quyền lợi họp hành. Những láng giềng thân thiện xưa nay, bây giờ  nhìn gia đình tôi thù địch. Những người không thù nghịch thì ngại không giao tiếp  sợ liên quan với  giai cấp bóc lột.
Đội cải cách do chuyên gia Trung Quốc chỉ đạo tài thật, có mắt thần giúp mọi người nhìn ra địch-ta , mà trước đây mọi người cứ lẫn lộn! May mà ở vùng kháng chiến, bố tôi không mua thước đất nào, nếu có ruộng thì ăn chắc địa chủ. Cứ có 3 mẫu (1ha) là dựa cột ăn đạn rồi.
Lúc làm cách mạng thì tíu tít với công việc cách mạng, nhưng khi lâm nạn thì chẳng ai cứu giúp.
Nhưng rồi sau đó hai năm có chuyện sửa sai. Bố tôi cạy cục lên tỉnh khiếu nại, chờ mất một năm thì nhận đươc một tờ giấy sửa lại thành phần có dấu triện hẳn hoi. Thành phần được sửa xuống trung nông, báo về xã, bây giờ nhà tôi không còn nằm trong giai cấp bóc lột nữa. Nhưng ba năm ở cái thành phần được gán ghép, cả gia đình bị tổn thương tâm lí nặng nề. Anh giai tôi từ đấy nhìn thấy bất cứ cán bộ nào là đều căm ghét. Sau này tôi đi công tác, anh ấy cũng ghét cả tôi. Tổn thương tâm lí với anh ấy thật quá lớn khi thấy cha mẹ mình bị xỉ nhục vô lối.
Ở ta, ai bị bắt nhầm dù chỉ một lần, giam một ngày cũng coi là bị bắt và coi như là đã có tội. Đó là cái nhìn khá chung của xã hội. Thành phần giai cấp cũng vậy, dù đã sửa sai có giấy má rõ ràng nhưng dân xóm xã lứa ấy vẫn coi gia đình tôi là thành phần phú nông. chết tiệt thật.

Tám năm sau tôi mới biết thêm một chuyện nũa do ông tổng biên tập tờ báo Đảng nơi tôi nhận công tác sau khi học xong trung cấp, kể lại. Năm 1966 ông cùng bộ xậu tìm lên nhà định tuyển tôi về đào tạo phóng viên cho báo. Khi lên ủy ban xã hỏi lí lịch gia đình, họ thuật lại chuyện khi sửa sai, Đảng bộ xã có mời lên để nhận lại Đảng tịch, thì ông ấy đứng giữa hội trường nói lớn: Tao đút buồi vào cái Đảng cúa chúng mày, rồi cắp đít ra về.Tổng biên tập nghe vậy sợ quá, rút lui êm re, không còn đặt vấn đề tuyển dụng tôi nữa. 
Một con người hiền lành ít học, chí cốt đi theo một niềm tin, nhưng qua cuộc cải cách ông đã biến thành con người thô lỗ cục cằn. Một đảng viên như bố tôi có hay không trong Đảng không quan trọng cho sức mạnh của Đảng lắm, nhưng đánh mất một niềm tin, triệt tiêu một hi vọng trong một con người trung thực đó là sự mất mát không bao giờ bù đắp được. Nhưng câu chuyện ấy tuyệt nhiên bố chẳng bao giờ nói trong nhà, chẳng có ai biết. 
Chuyện chỉ có thế nhưng tinh thần gia đình tôi u ám trong thời gian khá dài. Sự tổn thương không thể khắc phục nổi, nhất là mỗi lần có viêc gì liên quan đến lí lịch phải khai báo.
     *   *   *
 Đến đây , xin trích dấn một đoạn ghi nhớ của Trương Quang Đệ  trong bài viết :’ - Bối cảnh lịch sử của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm” mà tôi cho là khá trung thực:

“…Có điều nghịch lý khó tin là trong một vài tuần lễ vào năm 1956, Đảng đứng chung trận tuyến với những kẻ bất mãn và quảng đại quần chúng đối diện với hệ thống chỉ đạo cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, kẻ nắm quyền thực sự được các cố vấn phương Bắc hỗ trợ. Giáo sư Trần Văn Giàu, dạo đó là bí thư chi bộ (hay Đảng ủy?) đại học, được mời nói chuyện trước sinh viên về chính sách sửa sai của Đảng. Ông Giàu cho biết trong một thời gian dài Đảng bị tê liệt, hễ đội cải cách đến địa phương nào là chính quyền và Đảng nơi đó bị vô hiệu hoá, kẻ thì đi tù, kẻ thì lánh sang địa phương khác hay trốn lên miền núi, kẻ thì ngồi đó chờ số phận định đoạt. Ngay các lãnh tụ của Đảng như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan…vì thuộc thành phần bóc lột mà bị các đội cải cách địa phương và bần cố nông gửi giấy triệu tập về quê chịu tội. Tướng Giáp khi công cán qua Quảng Bình bị dân quân vây bắt, may mà cận vệ nổ súng đẩy lùi đám cuồng tín hung hãn. Các tên tuổi trong Ban chỉ đạo cải cách như Hồ Viết Thắng, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, làm sởn tóc gáy ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo ông Giàu thì Cụ Hồ hai lần bị các vị kia “uốn nắn” vì đã do dự khi hành quyết những phần tử mà Cụ cho là tốt, không có tội gì. Ông Giàu kết thúc buổi nói chuyện bằng lời kêu ca rằng đám cải cách làm đất nước lụn bại, làm đời sống nhân dân và cán bộ lâm vào cảnh cùng cực. “


Vấn đè ở đây là: mục tiêu cải cách ruộng đất  là người cày có ruộng nhưng khi làm xong thì hóa ra không phải thế, mà kết quả chính của nó  là đã phá vỡ toàn bộ, toàn diện khối đại đoàn kết dân tộc được có từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp được phát động. Khối đại đoàn kết đó đã tạo nên sức mạnh vô bờ bến giành chiến thắng trước đối thủ đầy sức mạnh. Đó là di hại  thứ nhất có thể trông thấy ngay.
Di hại thứ hai rất cơ bản là các giá trị văn hóa truyền thống nghìn đời như tình cha con, láng giềng, thân tộc , thày trò bị dày vò, bị cày xới cho nát như tương bần. Một  bó đũa bị thảy ra tung tóe bẻ cái nào cũng được.
Tổn hại thứ ba là Đảng  đã lao đao suýt bị đánh sập khi chơi con dao hai lưỡi   cố vấnTàu…

 Hậu quả làm cho người ta sống bất an, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ một cái gì đó giáng xuống bất ngờ. Tạo nên sự khủng bố tinh thần thường trực. Dai dẳng đén bây giờ vẫn vậy. Từ đó đẻ ra sự dối trá lớp này chồng lên lớp khác, thành căn bệnh xã hội nặng nề khó chữa lành.
Cho đến bây giờ mối di hại ấy chưa tan. Chưa tan vì chưa  minh bạch chuyện này sai đến đâu , đúng đén đâu, đảng ta chưa bao giờ làm sáng tỏ, chưa  đánh giá kết quả cải cách ruộng đất thật sự về giá trị vĩ mô, mà chỉ chung chung là người cày có ruộng là thắng lợi lớn. Bậy bạ hết sức. Như thế thì sẽ còn tiếp tục sai lầm  và tổn thất sẽ lại tiếp tục thôi.
 Và câu hỏi lớn vẫn treo lơ lửng: Tại sao?Tại sao lại thế , có thế lực nào ngăn trở?  để rồi lại tiếp tục bị cuốn vào rắc rối sâu hơn nữa. Và bây giờ lại dính nhựa những lời hứa hão  bằng những cái tình hữu nghị thủy chung chẳng bao giờ có thật.
     *   *   *
Tôi nghĩ  cái nợ tàn phá văn hóa truyền thống, phá tan sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc chỉ bằng việc làm cái cách có một hai năm, cái ác đó không khác gì đất nước bị dội bom nguyên tử. Những lãnh đạo Trung Hoa thâm độc thời ấy phải chịu trách nhiệm này. Đó thực sự là một chủ trương, một âm mưu thủ tiêu tinh hoa cách mạng Việt Nam lâu dài  để nhằm biến nước ta thành chư hầu.
 Cho nên cuộc kháng Mĩ, dù viện trợ bao nhiêu thì cũng chứa thể trả được cái nợ máu xương tinh thần do các cố vấn Tàu gây ra cho dân tộc Việt Nam ta trong cải cách.

Ai hôm nay lấy khẩu súng, tấm áo mẩu lương khô cái mũ cối để hàm ơn lãnh đạo Trung Hoa thì họ cứ hàm ơn, còn tôi khách quan đứng xa nhìn nhận thấy lãnh đạo Trung Hoa nợ dân tộc ta cái nợ ngàn đời khó trả. Chứ ta nợ họ súng ống áo quần tiền bạc thì vài đời con cháu sẽ trả gọn, nếu cần. Còn món nợ do họ gây ra họ sẽ chẳng bao giờ trả nổi, chỉ có vạch ra rõ ràng cho dân tộc cùng biết cùng hiểu mà đề phòng miệng hùm nọc rắn thôi.
Đó cũng là trách nhiệm thật nặng nề và khó khăn của các thế hệ tiếp theo.

Nhưng phải nói them, nếu minh bạch thế thì lãnh đạo đất nước phải chịu trách nhiệm. Liệu chúng ta có nhận thức ra không. Và nhất là có đủ dũng khí nhận trách nhiệm không?


Nguon : ĐỖ ĐỨC BLOG

Chán quá mà phải nói



Theo Vnexpress:
.....Những cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã "gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, hình ảnh thủ đô - Thành phố Vì hòa bình; tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động  tới việc thực hiện đường lối, quan hệ ngoại giao của Đảng, Nhà nước".Trong thông báo này Hà Nội cho rằng, Với mục đích "duy trì ổn định an ninh trật tự ở thủ đô", chính quyền Hà Nội yêu cầu: "Chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trên địa bàn thành  phố".
Cùng với thông báo này, ".các lực lượng chức năng được Hà Nội cho phép áp dụng các "biện pháp cần thiết" đối với những người "cố tình không chấp hành, tụ tập đông người trái pháp luật, gây rối trật tự, chống người thi hành công vụ


Là một công dân có tuổi, tôi thực sự thất vọng với cái thông cáo chẳng giống ai này.
Tôi không đi biểu tình nhưng là người quan sát thì người biểu tình không mắc lỗi như thông cáo nói. Nhất là những ngày biểu tình tuần hành quanh Hồ GƯƠM. Còn biểu tình là biểu lộ ý chí thì phải hát phải hô, có phải đám ma đâu mà đi lặng lẽ. Bây giờ bớt đi nhiều chứ trước đây thời chống Mĩ , trong hội trường các cuộc họp còn hô khẩu hiệu vang lừng. Còn mít tinh tuần hành thì khỏi nói, cáng hô to cáng tốt, phải dùng loa sắt khi chưa có loa điện. Với vài trăm người tuần hành hô các khẩu hiệu bảo vệ biển đảo chống gây hấn thì thành phố sợ gì.
Tôi còn lo khi thành phố kêu gọi xuống đường chống  bon gây hấn  dân không chịu ra đường ấy chứ, đằng này lòng dân sôi sục tự phát còn ngăn cản làm cho mất trật tự. Rõ ràng nói cho công bằng mất trật tự, gây phản cảm lại từ lực lượng an ninh, mà không là nguời biểu tình.

gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, hình ảnh thủ đô - Thành phố Vì hòa bình”.


Thông báo viết  thé này không thuyết phục, vì đây là biểu lộ ý chí hòa bình của một thành phố hòa bình rất đáng trân trọng. Hòa bình không có nghĩa nó đá vào đít mình mà ngồi im mặc nó đá. Nếu thế sẽ là thành phố nhu nhược chứ Hòa bình gì. Khi chế bom nguyên tử , Trung Quốc cũng nói là để gìn giữ hòa bình kia mà.Tôi là người Hà Nội, nghe như thế tôi cảm thấy thành phố yêu quí của mình bị xúc phạm. Phải chăng dân chúng luôn bị coi là đàn cừu, muốn nói sao cũng được?


“có một số người trong và ngoài nước đang lợi dụng các cuộc biểu tình yêu nước của đa số người tham gia để "chống đối Đảng, Nhà nước, kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ quan hệ Việt - Trung; tập hợp lực lượng gây mất ổn định chính trị".
Cái này xin nói rõ. Trên blog có những blog suốt ngày kêu gọi lật đổ và rủa xả Đảng bán nước. Tôi biết rằng những kẻ từ xa nói chõ chửi bậy ấy nghe tiếng súng là vãi ra quần ròi, và có chiến tranh thì chúng tôi dù già rồi có khi vẫn phải cầm súng chứ không phải bọn nói chõ ấy. Sao các vị nắm vận mệnh đất nước phải sợ mấy tiếng hù gió của ma lang bạt đó. Yếu bóng vía thế thì lãnh đạo làm sao? Còn phản động ư, Việt Tân ư? Tôi bảo đảm nếu có Việt Tân về đây thì con cún nó cũng chẳng theo, đừng nói người Hà nội chúng tôi. Cái thời ngồi ngoài nói chõ chờ thời đẻ về giành giật chỗ đứng xưa lắm rồi, dân chúng tôi không phải là con trâu để ai dắt đi đâu thì dắt.

Cái đáng lo là hàng nghìn công nhân Trung Quốc đáng ngờ không giấy phép lén lút vào theo các dự án khắp nơi từ Bắc đén Nam lập thành làng kia kìa là quá đáng sợ, có phải công nhân hay lính giả danh? Khi con ngựa thành Troa đã đưa được vào trong thành mà có biến thì cả dân tộc trơ mắt ếch ra. Cái đó sao các vị ấp úng, chưa thấy có một thông báo nào, mà lại  mà lại quyết liệt  với dân khi dân bày tỏ lòng yêu nước???. Chẳng qua mấy trí thức sinh viên và dân phố hăng hái xuống đường các vị trông thấy thôi, các vị đừng tưởng số ngồi nhà kia họ đang sợ các vị. Khi ra thứ thông cáo kì cục vô trách nhiệm với đất nước  kia là dang đối mặt với lửa đó.

Còn tình hữu nghị ư. Với đại đa số nhân dân Trung Quốc thì chúng tôi yêu mến và kinh trọng. Và còn kính trọng hơn nữa nền văn hóa vĩ đại Trung Hoa. Nhưng bọn cầm quyền hiện nay thì không tin họ được. Trong chính quyền mười người thi mười một người đều nghĩ như tôi thôi, chỉ có điều không nói hoặc không dám nói ra. 
Lãnh đạo của họ cũng biết thế, ta lừa nhau làm gì khi không thể lừa? Ngoại giao mềm dẻo như thế nào thì việc nhà nước, nhà nước cứ làm, Còn dân thì đùng bắt im mồm. Nhún nhường chúng cũng chẳng thương đâu, khi cần cho phát đá vào mông là nó vẫn cho như thường. Vì xét lối ứng xử của nó trên đất liền trên biển thì rõ ràng chúng chưa thoát khỏi bản chất của kẻ lưu manh, chúng không có văn hóa sống với láng giềng. Còn lâu chúng mới thu được lòng kính trọng của người dân Nam, đừng có  nhắc đi nhắc lại câu tình hữu nghị không đáng tin đó. Còn chia rẽ quan hệ Việt Trung là từ phía lãnh đạo Trung Quốc chứ đâu phải ta mà phải lấn bàn mãi về tình “hữu nghi” đểu này nghe rờm tai quá.
“Cùng với thông báo này, ".các lực lượng chức năng Hà Nội được cho phép áp dụng các "biện pháp cần thiết" đối với những người "cố tình không chấp hành, tụ tập đông người trái pháp luật, gây rối trật tự, chống người thi hành công vụ"

Nội dung cuối thông báo quả thật bất cập. Là có nằm mơ tôi cũng không thể nghĩ ra nó lại ngạo mạn  với lòng yêu đất nước của người dân đến thế. Trước đây cái gì không quản là cấm, như karaoke chẳng hạn, có thời không quản được đã định cấm mà rồi không làm được. Ví khi cấm là khi bất lực, lấy sức mạnh đè người, chỉ gây căng thẳng thêm. Nhưng việc đe dùng đến  Lực lượng chức năng áp dụng các biện pháp cần thiết với biểu tình chống bọn xâm lược thì là tấn công vào lòng yêu nước và có thể đấy vấn đề đi quá xa. Đó là nỗi run sợ không kiểm soát nổi rồi đó. Mong rằng thông cáo thế nhưng đừng làm thế.


Lãnh đạo phải có tầm cao hơn thì hãy làm lãnh đạo, Khi đã ban ra điều gì thì phải lường trước nó thuyết phục được đa số nhân dân, không thì thôi vì như thế ăn chẳng bõ ỉa, tiếng xấu để đời.




18/8/2011
Nguon : ĐỖ ĐỨC





7 thg 9, 2011

Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung “chỉ đạo” những gì?

Tin tức cho biết, nhận lời mời của ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, ông Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đến Bắc Kinh để cùng chủ trì cuộc họp lần thứ tư của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung, từ ngày 29 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7.
 
Để biết thêm về Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung là gì, cũng như Ủy ban này đã “chỉ đạo” các vấn đề gì cho Việt Nam kể từ khi thành lập, mời quý vị cùng Thông tín viên Ngọc Trân điểm qua các tin tức có liên quan.

Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương là gì?

Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung, có tên tiếng Anh là “Guiding Committee for China – Vietnam Bilateral Cooperation”, được thành lập ngày 11 tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội. Phía Trung Quốc do ông Đường Gia Triền, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc vào thời điểm đó làm Chủ tịch, và phía Việt Nam do ông Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, đồng giữ chức Chủ tịch.

Theo tin từ báo chí trong nước, Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung được thành lập với sự thỏa thuận của lãnh đạo cao cấp hai nước, do “xuất phát từ yêu cầu khách quan, nhằm thúc đẩy quan hệ Việt – Trung phát triển toàn diện”.
Ngay sau khi thành lập, Ủy ban đã tổ chức phiên họp đầu tiên trong tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội. Trong phiên họp này, hai bên đã hứa hẹn một tương lai tốt đẹp mà Ủy ban sẽ mang lại cho hai nước. Ông Đường Gia Triền cho biết: “Việc lập ra Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác ở cấp cao nầy là một quyết định chiến lược trong tầm nhìn xa vào tương lai của lãnh đạo hai nước, hai Đảng trong tình hình mới, làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện, mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện, hữu nghị Trung – Việt”.

Theo ông Vũ Dũng, Thứ trưởng Ngoại giao và là Tổng Thư ký Ủy ban Chỉ đạo phía Việt Nam cho biết, nhiệm vụ chính của Ủy ban là: “Tăng cường chỉ đạo, điều phối vĩ mô đối với các cơ chế hợp tác hiện hành giữa hai bên, quy hoạch tổng thể quan hệ hai nước trên các lĩnh vực, điều phối giải quyết các vấn đề quan trọng, tăng cường tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, đưa sự hợp tác toàn diện giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn”.  

Ủy ban Chỉ đạo lập website chống Việt Nam?

Ngay sau khi thành lập, một trong những việc đầu tiên mà Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung đã “chỉ đạo” thực hiện là, Bộ Thương mại hai nước ký thỏa thuận thành lập Website “Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - Trung Quốc”, với địa chỉ tên miền tiếng Trung là chinavietnam.gov.cn và địa chỉ tiếng Việt là vietnamchina.gov.vn.
Tham dự lễ khai trương website hôm 16 tháng 11 năm 2006 gồm có các vị lãnh đạo cao nhất của hai đảng, hai nhà nước như: ông Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung Quốc, ông Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước Việt Nam. Và ba vị lãnh đạo cao cấp này đã cùng nhấn nút kích hoạt trang thông tin điện tử “Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt – Trung”.
Thế nhưng sau đó, chính website này đã đăng nhiều thông tin đứng trên lập trường Trung Quốc, công khai chống lại Việt Nam, đặc biệt là những quan điểm về chủ quyền trên Biển Đông, chẳng hạn như website này đã đưa tin hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
Mặc dù tên miền trang web này có đuôi là gov.vn, nghĩa là chỉ có Chính phủ Việt Nam mới có quyền sử dụng, thế nhưng khi được hỏi, ông Nguyễn Thành Hưng, Cục trưởng Cục thương mại Điện tử và Công nghệ Thông tin, thuộc Bộ Công Thương Việt Nam đã trả lời rằng: “Trang web là của mình nhưng mà là phía Trung Quốc phụ trách. Tiếng Việt do phía Trung Quốc phụ trách để họ đăng trực tiếp bằng tiếng Việt, giúp doanh nghiệp Việt Nam”.

Không rõ phía Trung Quốc đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam những gì ở trang web này, nhưng trên thực tế website này đã được sử dụng để đưa các thông tin công khai chống lại Việt Nam, đứng trên lập trường của Trung Quốc.
Sau khi bị dư luận phía Việt Nam lên tiếng phản đối, ngày 17 tháng 5 năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã chính thức đóng cửa tên miền tiếng Việt website này. Thế nhưng, từ đó đến nay chưa cá nhân nào có liên quan bị đưa ra xử lý, cũng như chưa có một cuộc điều tra nào được tiến hành để xem những ai đã đứng đằng sau “chỉ đạo” việc này.

Cắm mốc theo “tinh thần hữu nghị”?

Hơn một năm sau, phiên họp lần thứ 2 của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Việt – Trung được tổ chức, từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 1 năm 2008 tại Bắc Kinh, giữa hai đồng Chủ tịch vẫn là ông Đường Gia Triền và ông Phạm Gia Khiêm. Trước đó, chuẩn bị cho phiên họp này là cuộc họp cấp Chủ tịch Ủy ban Liên hợp Phân giới Cắm mốc Biên giới trên bộ, được tổ chức tại Hà Nội, từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 1 năm 2008.
Trong phiên họp lần thứ hai này, Ủy ban đã điểm lại tình hình quan hệ giữa hai nước về mọi mặt kể từ phiên họp lần thứ nhất hồi cuối năm 2006, thế nhưng không rõ phía Việt Nam có đưa vấn đề website “Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt – Trung” ra để phản đối với phía Trung Quốc hay không.
Tin tức về phiên họp lần thứ hai cho biết, kể từ khi thành lập Ủy ban, quan hệ giữa hai Đảng, hai nước tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực. Hai bên đã “khẳng định vai trò và sự cần thiết của cơ chế hợp tác quan trọng này trong việc chỉ đạo và thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt – Trung phát triển sâu rộng và hiệu quả theo phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt mà lãnh đạo cấp cao hai nước xác định”.
Phiên họp này cũng nhắc đến việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, chẳng hạn như thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước phải hoàn thành toàn bộ công tác phân giới, cắm mốc trong năm 2008. Kết quả là hai nước cũng đã hoàn thành việc cắm mốc đúng thời hạn đưa ra, nhưng lại theo “tinh thần 16 chữ vàng và 4 tốt”, “xây dựng đường biên giới đất liền Việt – Trung thành đường biên giới hữu nghị và hợp tác”.

Phát biểu tại buổi lễ chào mừng công tác phân giới cắm mốc hôm 23 tháng 2 năm 2009, ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc cho biết: Việc hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền Trung Quốc - Việt Nam một lần nữa khẳng định, chỉ cần hai bên luôn kiên trì phương châm chỉ đạo 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt, luôn lấy đại cục hữu nghị hai nước làm trọng thì nhất định sẽ giải quyết ổn thỏa tất cả các vấn đề trong quan hệ hai nước, thúc đẩy quan hệ hai nước không ngừng phát triển phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước.
Có lẽ cũng xin nhắc thêm, việc phân định ranh giới giữa hai nước, thay vì phải căn cứ vào tài liệu lịch sử, chẳng hạn như Công ước Pháp – Thanh năm 1887, hay công ước bổ túc năm 1895 được ký giữa Pháp với nhà Thanh, thế nhưng theo Ủy ban Chỉ đạo này thì việc phân định đất đai lại căn cứ vào “phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt”, cũng như đường biên giới không phải để phân chia ranh giới giữa hai nước mà là đường biên giới của “tình hữu nghị”.
Ông Đới Bỉnh Quốc cho biết thêm: Đảng và Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng quan hệ hai nước và sẽ cùng với Đảng và Chính phủ Việt Nam xây dựng đường biên giới đất liền TQ-VN thành đường biên giới của tình hữu nghị và hợp tác, phát triển.

Mặc dù việc phân giới cắm mốc đã hoàn thành từ cuối năm 2008, cho đến nay Chính phủ Việt Nam vẫn chưa công bố bản đồ chi tiết, thế nhưng theo các tài liệu không chính thức mà các nhà nghiên cứu có được, cho rằng Việt Nam đã bị mất rất nhiều đất về tay Trung Quốc.
Ngoài việc lập website chống Việt Nam cũng như chỉ đạo cắm mốc theo “tinh thần hữu nghị”, Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương đã làm thêm những gì “cho” Việt Nam? Đó sẽ là nội dung bài kế tiếp.
Mời quý vị tiếp tục theo dõi những thông tin liên quan Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, cũng như đã trình bày một số việc mà Ủy ban này đã thực hiện kể từ khi thành lập.

Ủy ban chỉ đạo Biển Đông ra sao?

Có lẽ mọi người đều nhận ra rằng, sau khi Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung được thành lập, Trung Quốc ngày càng gia tăng các hành động gây hấn cũng như vi phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, mặc dù vấn đề Biển Đông luôn được Ủy ban này đưa ra thảo luận trong các phiên họp.
Theo tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, trong phiên họp lần thứ hai tại Bắc Kinh hồi cuối tháng 1 năm 2008, hai bên đã đạt được đồng thuận trên 6 vấn đề chính, trong đó có vấn đề liên quan tới Biển Đông như: “Xử lý đúng đắn các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông và bảo đảm ổn định phát triển có lợi cho quan hệ song phương đi đúng hướng”.  
Riêng Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã đưa tin về phiên họp này có liên quan tới Biển Đông như sau: “Hai bên đã trao đổi rất thẳng thắn và nhất trí rằng dưới sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước cần tập trung trao đổi về giải pháp cho các vấn đề trên biển Đông trong đó có vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa”.
Mặc dù trong phiên họp lần thứ hai, hai bên đã cam kết “xử lý đúng đắn các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông”, thế nhưng giữa tháng 3 năm 2009, chỉ vài ngày trước phiên họp lần thứ ba, phía Trung Quốc đã điều tàu ngư chính đến tuần tra ở một số khu vực trên Biển Đông, thuộc chủ quyền Việt Nam.
Phiên họp lần thứ ba của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 3 năm 2009, giữa ông Phạm Gia Khiêm và ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện trung Quốc, thay thế ông Đường Gia Triền giữ chức Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo này.
Cũng không rõ phía Việt Nam có lên tiếng phản đối vấn đề Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam trong phiên họp này hay không, chỉ biết rằng báo chí trong nước đưa tin về phiên họp này có liên quan đến Biển Đông như sau: “Hai bên thoả thuận, thời gian tới sẽ đặt trọng tâm đàm phán vào các vấn đề trên biển; duy trì hoà bình, ổn định trên biển; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực có điều kiện và cùng nhau phấn đấu để cùng với các bên liên quan tìm ra giải pháp cơ bản, lâu dài, cùng chấp nhận được cho vấn đề trên biển”.

Chỉ đạo gây hấn trên biển?

Mặc dù Ủy ban đã thỏa thuận “duy trì hòa bình và ổn định trên biển” trong phiên họp lần thứ ba, thế nhưng chưa đầy hai tháng sau, một lần nữa Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam qua việc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá tại các vùng biển của Việt Nam, kể từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 năm 2009.  
Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên lãnh hải Việt Nam, và điều đáng nói là lệnh cấm này được Trung Quốc đưa ra vào thời điểm hai nước đang tồn tại cái gọi là Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, cũng như Ủy ban này đã cam kết “xử lý đúng đắn các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông”.
Bất chấp cam kết mà phía Trung Quốc đã đưa ra trong hai phiên họp của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, ngày 21 tháng 6 năm 2009, các tàu tuần tra của Trung Quốc đã bắt giữ ba tàu đánh cá của Việt Nam, cùng 37 ngư dân để đòi tiền chuộc 210.000 nhân dân tệ. Không những thế, ngày 1 tháng 8 năm 2009 cũng là ngày cuối cùng Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá, 13 ngư dân Việt Nam khác vào tránh bão tại khu vực Hoàng Sa cũng đã bị phía Trung Quốc bắt giữ.
Không dừng lại ở đó, vào ngày 8 tháng 11 năm 2009, Bắc Kinh tiếp tục thực hiện việc thôn tính biển, đảo của Việt Nam qua quyết định thành lập “Ủy ban thôn đảo” trên hai đảo Phú Lâm và Đảo Cây, mà phía Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng và Triệu Thuật, thuộc quần đảo Hoàng Sa, do Trung Quốc chiếm giữ trái phép của Việt Nam kể từ năm 1974.
Ðây là hành động với mục đích gây hấn từ phía Trung Quốc, làm căng thẳng thêm tình hình tranh chấp trên biển giữa hai nước, trái ngược với những tuyên bố mà họ đã đưa ra trong hai kỳ họp trước của Ủy ban Chỉ đạo.

Mục đích của“Ủy ban”?

Chuyện Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung đã mang lại lợi ích cụ thể gì cho Việt Nam kể từ khi thành lập, có lẽ chẳng có người Việt Nam nào biết, thế nhưng tin tức trên các website của chính phủ, cũng như của các cơ quan ngoại giao Việt Nam, đã đánh giá cao về cái Ủy ban này.  
Chẳng hạn như, bản tin về cuộc họp lần thứ hai của Ủy ban đã được Lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh đưa tin như sau: “Hai bên đã điểm lại tình hình mọi mặt của quan hệ hai nước kể từ phiên họp lần thứ nhất vào tháng 11 năm 2006 của Ủy ban, hài lòng nhận thấy rằng, một năm qua, quan hệ giữa hai Đảng, hai nước tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực. Lãnh đạo cấp cao thường xuyên gặp gỡ, đi thăm lẫn nhau, giao lưu giữa các Bộ ngành hai nước không ngừng tăng lên và mở rộng, hợp tác ngày càng thực chất, hiệu quả…
Qua bản tin trên, phải chăng Ủy ban này được thành lập với mục đích giúp hai đảng, hai nước giao lưu, thăm hỏi lẫn nhau, chứ không phải để giải quyết các vấn đề vĩ mô giữa hai nước mà hai bên nêu ra? Cũng không rõ lắm.
Hãy nghe tiếp bản tin về phiên họp lần thứ ba của Ủy ban này như sau: “Hai bên nhất trí đánh giá cao kết quả hoạt động của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương sau hai năm hoạt động, khẳng định vai trò và sự cần thiết của cơ chế hợp tác quan trọng này trong việc chỉ đạo và thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước ngày càng thiết thực và đi vào chiều sâu”.
Trong khi đó, quan hệ ngoài Biển Đông giữa hai nước vẫn luôn căng thẳng. Đầu tháng 4 năm nay Trung Quốc vẫn tiếp tục điều các tàu ngư chính đến tuần tra ở vùng biển phía Tây Nam và phía Đông Trường Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến cuối tháng 4, thêm một lần nữa Trung Quốc đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, kể từ  ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 năm nay, ở các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.
Và một hành động leo thang mới nhất của Trung Quốc, ngày 22 tháng 6 vừa qua, Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước Trung Quốc đã đơn phương ban hành “Cương yếu Quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam năm 2010-2020”. Trong Cương yếu này, Trung Quốc đã giao cho tỉnh Hải Nam quản lý khu vực biển, đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, như mở các tuyến du lịch đường hàng không và đường biển ra quần đảo Hoàng Sa, cũng như khuyến khích người dân Trung Quốc đăng ký sử dụng các đảo không người ở trên quần đảo Trường Sa.
Thế nhưng qua phiên họp lần thứ tư giữa hai đồng chủ tịch là ông Đới Bỉnh Quốc và ông Phạm Gia Khiêm, hồi cuối tháng 6 và đầu tháng 7 vừa qua, báo điện tử chính phủ Việt Nam đưa tin: “Hai bên vui mừng nhận thấy, hơn một năm qua, quan hệ giữa hai Đảng, hai nước đã đạt được nhiều tiến triển quan trọng. Các chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra thường xuyên, giao lưu giữa các Bộ, ngành và địa phương hai nước tiếp tục được thúc đẩy; hợp tác kinh tế thương mại không ngừng tăng nhanh”.
Có một Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Trung, làm việc hữu hiệu như tin tức đã đưa như thế, quan hệ giữa hai đảng, hai nước tốt đẹp như thế, tại sao lại có chuyện ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt bớ, đánh đập, hay có chuyện biển đảo Việt Nam bị Trung Quốc xâm phạm chủ quyền như chúng ta vẫn thường nghe phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối trong thời gian qua?
Hơn nữa, Ủy ban này sẽ trả lời ra sao về website “Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt – Trung” đã để cho Trung Quốc sử dụng chống Việt Nam, cũng như việc phân giới, cắm mốc theo “tinh thần hữu nghị”? Câu trả lời xin dành cho những người có trách nhiệm.
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/What-is-the-guiding-committee-for-vietnam-china-bilateral-cooperation-for-ntran-07042010094332.html
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/What-is-the-Guiding-Committee-for-Vietnam-China-Bilateral-Cooperation-for-NgTran-07082010154412.html

NGÂY THƠ

"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo..."

Lời của cụ Ức Trai ngày nào vẫn như chân lý muôn đời cho việc chăn dắt dân theo nghiệp Vương đạo. Song cái gì là chân lý thì khó lòng thực hiện được. Với một người dân thường, mọi tư duy có thể bị dẫn dắt từ các chính khách. Đặc biệt, với những chính khách mà quyền lực thứ tư - truyền thông đại chúng - thuộc về họ độc quyền khai thác.

Khi Mao Trạch Đông muốn làm cuộc đại cách mạng văn hóa để thanh trừng đồng chí và người thân của mình, thì ông ta cho làm cuộc Đại nhảy vọt như là một phép thử chính trị. Trong đó, chỉ thị cuộc giết chim sẻ, với lý luận rất phi khoa học: "Mỗi ngày 1 con chim sẻ ăn 10 hạt thóc. Nếu tận diệt chim sẻ thì nhân dân Trung Hoa sẽ thoát nạn đói". Và nếu ai từng xem phim tài liệu về Đại nhảy vọt, thì sẽ thấy điều này được nhân dân Trung Hoa nghe theo triệt để, với hàng trăm chuyến xe chở chim sẻ bị giết bắt. Và có những đoàn người đuổi chim sẻ trên những cánh đồng đến sa cánh. Nhưng chim sẻ chưa bao giờ ăn thóc! Kết cuộc của phép thử chính trị này là nạn đói trong Đại nhảy vọt, vì sâu rầy phá hại mùa màng do không còn chim sẻ để ăn sâu rầy theo qui luật cân bằng sinh thái bình thường. Mao đi đến kết luận: "Dân Trung Hoa mình còn ngu lắm, làm cách mạng văn hóa được đấy". Và gần 40 triệu người đã chết dưới bàn tay nhơ nhuốt của Mao. Trong đó có rất nhiều người trí thức yêu nước, cả những đồng chí và ngay cả bà vợ cả của Mao.

Khi dân trí còn u mê thì các chính khách thường dùng các phép thử chính trị để hòng thực hiện những mưu đồ đen tối của mình. Việc chăn dắt dân của một nước là việc lớn khó khăn. Trong tư tưởng chăn dắt ấy có thể chia làm 2 loại: Vương đạo và Bá đạo. Vương đạo thì lấy việc nhân nghĩa để chăn dắt dân. Bá đạo thì lấy cường quyền để trị dân. Mao và đảng của ông đã không đủ nhân nghĩa để làm chuyện Vương đạo, nên ông đành phải lấy Bá đạo. Và việc ấy ảnh hưởng không nhỏ đến các lâng bang nhược tiểu mà, ngay nay vẫn còn tồn tại.


Tất cả những điều trên được hiểu theo nghĩa ngây thơ. Với chính khách nó là "ngây thơ cụ" để chăn dắt dân theo tư duy vô thức đám đông. Còn với dân là ngây thơ thực sự. Cách nay hơn 1 năm tôi có viết bài
Tâm tình với trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu hiểu theo cả 2 nghĩa ngây thơ đều đúng.

Và mấy hôm nay, trên các diễn đàn lại xuất hiện nhiều kiểu ngây thơ thực sự. Trong nước thì có những nhân sĩ trí thức tin chuyện hoang đường rằng,
lá đu đủ chữa hết bệnh ung thư. Và được các trang mạng đình đám đưa link quãng bá. Nhân sĩ trí thức ngoài nước thì viết thư ngỏ đến các lãnh đạo Việt về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc. Kể cả ông GSTS người Việt ở nước bạn cũng biết lừa dân mình chuyện tế bào gốc để chữa mụn. Đứng trên phương diện lịch sử của nước Việt trong hơn 50 năm qua thì, tư duy hai việc này cũng ngây thơ không kém phần thực sự.

Âu cũng là chuyện nhân dân ra sao thì các quan cũng như thế cũng là cái nghiệp của ngây thơ vậy.

Nguon : BACSIHOHAI

5 thg 9, 2011

CHIẾN TRANH BẮT ĐẦU TỪ CHÍNH KHÁCH


Ngày mai là ngày kỷ niệm lần thứ 66 ngày Việt Minh cướp chính quyền khai sinh ra một nửa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Lịch sử dân tộc sang một trang mới đầy máu và nước mắt. Để nhìn lại lịch sử một cách thấu đáo, tôi xin lấy một nửa câu nói của tướng Williams Westmoreland làm chủ đề cho entry này: "Chiến tranh không bắt đầu từ người lính. Chiến tranh bắt đầu từ các chính khách"

Entry này không có gì ngoài 3 mục đích, thứ nhất là lưu lại lịch sử trung thực. Thứ hai là nhắc nhở các thế hệ người Việt hãy nhìn chiến tranh đúng với bản chất của nó để có tư duy đúng cho tương lai. 

Và mục đích cuối cùng là nhắc nhở các sử công và các chính khách Việt Nam hãy vì đại nghiệp dân tộc mà làm với lương tâm, danh dự hơn là vì các mưu đồ đen tối của chính khách. Vì sao môn lịch sử thi vào đại học khối D năm nay có tỷ lệ điểm không cao vậy? Có phải một phần rất lớn của trách nhiệm các chính khách và các sử công?
































Nguồn : BACSIHOHAI

4 thg 9, 2011

Khi lòng yêu nước còn được “bao cấp”


Hôm nay Tết Độc lập,  bước ra phố thấy rừng cờ đỏ sao vàng, vừa vui vừa buồn khi chợt nghĩ : Chẳng lẽ những lá cờ cắm bên phố  khác với  những lá cờ trên tay của người biểu tình bảo vệ chủ quyền biển đảo...? 

Có đấy! có sự khác nhau đến mức "nghịch lý". Không biết trên thế giới này có nhân dân nước nào bị cấm cầm cờ tổ quốc đi biểu tình chống xâm lược nước ngoài? Và có người đại diện nhà nước nào  trong đàm phán lại cam kết với phía đối phương sẽ đảm bảo ngăn chặn biểu tình của nhân dân nước mình....để đổi lấy hòa bình?  

Thì ra,  sau bài học quý báu thu được từ việc xóa bỏ chế độ bao cấp trong lĩnh vực kinh tế hồi cuối thế kỷ trước, giờ đây ở nước ta vẫn chưa chịu rút ra bài học về tai  hại của chế độ bao cấp đối với lòng yêu nước! 
Có những vị cứ tự cho mình cái quyền được nói thay nhân dân trong phạm trù lòng yêu nước! Không những thế họ dường như có xu hướng nói năng một cách tự do, thoải mái đến mức sai cả đường lối của Đảng và Hiến pháp! Đó là trường hợp mới đây một vị  Gám đốc của  Học viện chính trị quan trọng nhất nước đã nói sai quan điểm ....khiến  dư luận bức xúc chê bai...; tiếp đến Đài PT-TH Hà Nội "đánh đồng" các nhân sĩ trí thức tham gia biểu tình yêu nước là "lực lượng phản động"! 
Mới đây một vị  tướng lĩnh khi đàm phán với phía Trung Quốc  nói: " Nhân dân Việt Nam không bao giờ  nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền " khiến bàn dân thiên hạ phân vân:  liệu có sự nhượng bộ "có nguyên tắc" nào đó không?... Còn không ít những trường hợp "nói nghiụ" như thế không tiện nói hết ra đây. 

Ôi, thật đáng buồn (nhưng không đáng cười một tí nào)! Không hiểu sao, ngày càng có nhiều trường hợp phát ngôn, nói năng thiếu chuẩn mực từ phía giới lãnh đạo đất nước, trong khi người dân luôn được "uốn nắn" từng li từng tí trong mọi cử chỉ hành động yêu nước của họ? Âu đây cũng là một nghịch lý của đất nước này, và mong sao nó sẽ sớm được chấm dứt!